Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghị quyết 11. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghị quyết 11. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, tháng 12 16, 2012

Cái chết của nền kinh tế Việt Nam

LTS: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đó là 1 nền kinh tế yểu mệnh, ngay từ định nghĩa cho đến thực tế. Và thực tế của hàng triệu người dân đang sống trên mảnh đất hình chữ S đối mặt là khó khăn, ngày càng khó khăn. Bài viết sau sẽ chỉ rõ ra sự giả dối của con số tăng trưởng GDP và đâu là nguyên nhân dẫn tới cái chết của nền kinh tế yểu mệnh này.

Thứ Bảy, tháng 8 11, 2012

Việt Nam đã rơi vào bẫy thanh khoản!

Bẫy thanh khoản xảy ra khi ngân hàng Trung Ương bơm tiền cho các ngân hàng thương mại thất bại trong việc giảm lãi suất và kích thích kinh tế. Nguyên nhân của bẫy thanh khoản là do người dân thích tích trữ tiền do kỳ vọng giảm phát, tổng cầu sụt giảm nghiêm trọng hay chiến tranh.



Thứ Hai, tháng 5 21, 2012

Mất lòng tin là mất tất cả

KT VN hiện đang như người bệnh trầm cảm, hôm nay tệ hơn hôm qua, và tốt hơn ngày mai.

Và người bệnh này dùng toàn thuốc dỏm, chỉ “Xuyên tâm liên” xào qua chế lại, nên không thể nào đủ năng lực, năng lượng, cảm hứng, để trồi dậy làm nên việc gì cả.

Thứ Tư, tháng 4 18, 2012

Châu Âu tự sát kinh tế


LTS: Nghị quyết 11 của CP VN và chính sách kinh tế của châu Âu hiện tại đều có điểm chung là sử dụng biện pháp thắt chặt và khắc khổ. Và chính sách này đang đưa cả hai nền kinh tế tới sự sụp đổ toàn bộ nền kinh tế. Bài viết sau đây của giáo sư kinh tế người Mỹ Paul Krugman giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chính sách tự sát kinh tế của châu Âu. 

Thứ Hai, tháng 8 29, 2011

Điểm báo 29.08.2011

“…Với việc tạm thời chưa áp dụng quy định về tỷ lệ sử dụng vốn tại Thông tư 13 và 19, rõ ràng ý định nới lỏng tín dụng của NHNN đã được thể hiện rất rõ.

Nhận định này càng được củng cố khi đầu giờ sáng nay, NHNN đã quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ thêm 1%, mở đường hạn chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ, và định hướng vào tăng trưởng tín dụng nội tệ trong những tháng cuối năm 2011…”

‎(Vietstock) – Ý định nới lỏng tín dụng của NHNN đã được thể hiện rất rõ. Nhưng việc chưa đề cập đến thay đổi hệ số rủi ro đối với các khoản vay bất động sản và chứng khoán cho thấy tinh thần của Nghị quyết 11 về hạn chế tín dụng “phi sản xuất” vẫn còn nguyên.
“…TS Lê Thẩm Dương – Trưởng khoa Quản trị doanh nghiệp, Đại học Ngân hàng TP.HCM: Khơi thông vốn trên thị trường liên ngân hàng

Tiền rút mạnh, tín dụng tăng chậm thế mà lạm phát vẫn tăng cao, do đó lạm phát ở đây là do chi phí đầu vào tăng…”
———————————
Thử hỏi TS Lê Thẩm Dương, vậy chứ NHNN “mua” 6 tỉ USD từ tiền ở đâu ra, cứu CK 70 ngàn tỉ đồng hồi cuối tháng 5, trọn tháng 6, ở đâu ra?

Tiền trả trái phiếu đáo hạn, cả trăm ngàn tỉ đồng, ở đâu ra?

40 ngàn tỉ đồng thâm hụt ngân sách, tiền ở đâu ra chi trả?

=> NHNN lén lút in ra cả 500 ngàn tỉ đồng từ đầu năm đến nay, lén lút tung ra thị thường, chỉ là “không báo cáo” mà thôi.

Do đó mà nay quan chức đua nhau chở tiền cả xe hơi ra mua ngàn lượng vàng này sau ngàn luợng khác, hút hết vàng trên thị trường, tạo nạn “khan hiếm” vàng ngày càng trầm trọng, làm tăng giá cao hơn thế giới.

Mà tính ra rẻ chán, lượng vàng VN chỉ khoảng 2250 USD/ lượng, 1 ngàn lượng chỉ có 2,25 triệu USD thôi, trong khi các công trình luôn bị “rút ruột” ít nhất 30% theo “chỉ số tham nhũng” hiện nay, thì hàng năm đầu tư công cả trăm ngàn tỉ đồng (tức 5 tỉ USD), nợ quốc tế 5 tỉ USD, v.v… thì chưa kể nhiều món “áp phe” khác, chỉ việc “rút ruột” thì 2 nguồn này mà thôi cũng lên tới 3 tỉ USD, tức 2,3 TRIỆU lượng!

Giảm lãi suất cho vay | Kinh tế | Thanh niên

CP VN đang run sợ vì giá USD tăng, nên vội vàng có quyết định này, và tung nhiều lời trấn an dân chúng.

Tăng dự trữ ngoại tệ bắt buộc 1% sẽ chẳng làm thay đổi điều gì.

Có chăng là làm tăng giá lãi suất, do các ngân hàng chỉ có thể cho vay tối đa 92 USD cho mỗi 100 USD họ có trong tay cho số nợ dưới 12 tháng – khi trước là 93 USD.

Trước hết, vấn đề sổ sách tại VN thì ai cũng biết rồi, nếu muốn “vi phạm” luật cho vay 93 hay 92 USD trên tổng số 100 USD, thì có khó gì.

Hơn nữa, số này quá nhỏ để có thể tạo ra bất cứ sự thay đổi nào.

Chỉ là 1 biện pháp tung hỏa mù, làm ra vẻ “có biện pháp, có cách, làm giảm đà tăng giá ngoại tệ.”

Mặt khác, đành là có tung VND ra mua vào USD, nhưng chỉ vài tỉ, không lẽ bán ra giá rẻ để giữ giá trị VND, để rồi sau đó lại phải in thêm VND ra mua vào cho đợt sau?

Giá vàng, USD chắc chắn sẽ lên, sau vài ngày tạm lắng.

Thứ Bảy, tháng 8 20, 2011

[Thông cáo báo chí] S&P đánh sụt hạng tín dụng đồng nội tệ của Việt Nam xuống mức 'BB-'

Lời nói đầu: Tin mới nhất cho biết là S&P, cơ quan xếp hạng tín dụng của Mỹ đã hạ mức xếp hạng tín dụng đồng nội tệ Việt Nam xuống bậc BB-. Tin tức này khi được loan báo trên các báo điện tử về tài chính kinh tế ở Việt Nam đều lờ đi cảnh báo quan trọng nhất của S&P trong thông cáo báo chí về việc đánh sụt hạng tín dụng Việt Nam rằng Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế và tài chính trong thời gian gần. Đồng thời, triển vọng tiêu cực của S&P trong xếp hạng tín dụng Việt Nam cũng có nghĩa là Việt Nam có nguy cơ rất lớn sẽ bị đánh sụt hạng tín dụng tiếp. Tín hiệu cảnh báo về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đã được phát ra từ S&P. Đó cũng là điều mà chúng tôi liên tục cảnh báo các bạn Việt Nam trong mấy tháng gần đây.

(Tuyên bố sau đây đã được phát hành bởi cơ quan xếp hạng)

- Standard & Poor's gần đây đã sửa đổi phương pháp luận và giả định của hãng trong cách xếp hạng các chính phủ.

Do đó, chúng tôi đánh sụt hạng tín dụng nội tệ dài hạn Việt Nam xuống 'BB-' từ mức 'BB' hiện nay. Đồng thời, chúng tôi cũng hạ mức xếp hạng dài hạn của khu vực ASEAN xuống mức 'axBB' từ 'axBB +' hiện nay.

- Chúng tôi cũng xác nhận xếp hạng tín dụng ngoại tệ của Việt Nam tại mức 'BB-/ B', xếp hạng phát hành tín dụng ngắn hạn ở mức 'B' và xếp hạng tín dụng ngắn hạn của khu vực ASEAN tại mức 'axB'.

- Triển vọng tiêu cực về xếp hạng tín dụng của Việt Nam phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế và tài chính trong thời gian gần.

Hôm nay, Dịch vụ Xếp hạng Standard & Poor's đã hạ mức xếp hạng tín dụng nội tệ dài hạn của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuống 'BB-' từ mức 'BB', và xếp hạng tín dụng dài hạn khu vực ASEAN xuống mức 'axBB' từ mức 'axBB +'.

Đồng thời, Standard & Poor's xác nhận xếp hạng tín dụng ngoại tệ dài hạn của Việt Nam tại mức 'BB-', 'B' cho xếp hạng tín dụng ngoại tệ và nội tệ ngắn hạn, và 'axB' cho xếp hạng tín dụng ngắn hạn của ASEAN. Triển vọng về việc xếp hạng dài hạn là tiêu cực. Standard & Poor's cũng sửa đổi đánh giá chuyển nhượng và chuyển đổi cho Việt Nam xuống mức 'BB-' từ  mức 'BB' và xác nhận kết quả xếp hạng phục hồi tại mức '3'.

Ông Kim Eng Tan, chuyên gia phân tích tín dụng thuộc S&P, nói: ‘Chúng tôi hạ xếp hạng tín dụng nội tệ Việt Nam sau khi S&P sửa đổi lại phương pháp luận và giả định của hãng trong cách xếp hạng.”. Standard & Poor's không điều chỉnh xếp hạng tín dụng ngoại tệ dài hạn bởi vì nó không bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn xếp hạng mới cập nhật và nguyên tắc cơ bản về xếp hạng tín dụng quốc gia không thay đổi.

Ông Tan cho biết: "Theo phương pháp sửa đổi, chúng tôi thu hẹp khoảng cách còn tồn tại giữa xếp hạng tín dụng nội tệ và ngoại tệ của các quốc gia. Vì chúng tôi tin rằng các chính phủ có thể có ít động cơ hơn trong việc phân biệt giữa nợ nội tệ và ngoại tệ trong trường hợp tái cấu trúc nợ, do thực tế toàn cầu hóa của các thị trường đang tăng mạnh".

Để phù hợp với tiêu chí của chúng tôi trong xếp hạng các quốc gia, xếp hạng tín dụng nội tệ của Việt Nam bây giờ ngang bằng xếp hạng tín dụng ngoại tệ vì chế độ neo tỷ giá hối đoái của Việt Nam đồng làm hạn chế tính độc lập của chính sách tiền tệ và thị trường tài chính và vốn nội địa đang ở giai đoạn phát triển ban đầu.

Xếp hạng tín dụng quốc gia của Việt Nam là 'BB-' phản ánh một nền kinh tế có thu nhập thấp, hệ thống tài chính và cơ cấu chính sách đang phát triển. Triển vọng tăng trưởng kinh tế lành mạnh được củng cố bởi những nỗ lực liên tục của chính phủ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng một phần bù đắp những điểm yếu đó.

Các biến động kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây, cùng với tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ đã làm suy yếu khả năng chống đỡ của hệ thống ngân hàng với cú sốc tài chính hoặc kinh tế mới. Dòng chảy vốn nội địa ra khỏi Việt Nam đã làm giảm thanh khoản nội địa và khiến chi phí lãi vay nội địa tăng.

Ông Tan cho biết: "Phần lớn lượng tín dụng nội địa - ước tính bằng 118% GDP vào cuối năm 2011 - có lãi suất danh nghĩa trên 15%/năm". "Một môi trường thiểu phát có thể giảm khả năng trả nợ đối với những khoản vay trên mà chúng tôi hy vọng việc định giá lãi suất lại chậm hơn, và do đó có thể làm tổn thương chất lượng tài sản có trong hệ thống ngân hàng. Cuối cùng, điều này có thể dẫn tới yêu cầu tái cấp vốn của chính phủ cho chính các tổ chức khu vực tài chính công."

Nếu bỏ qua những điểm yếu trên, sự cởi mở với dòng vốn dầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã giúp cải thiện triển vọng kinh tế của Việt Nam. 4 năm qua, FDI liên tục ở mức khoảng 8% GDP. Những dự án có vốn đầu tư nước ngoài này sẽ giúp đảm bảo xu thế tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Việt Nam ở mức khoảng 5% - 6%. Standard & Poor's ước tính tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2011 ở mức 5%.

Triển vọng tiêu cực về xếp hạng tín dụng của Việt Nam phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế và tài chính trong thời gian gần. Chúng tôi có thể hạ thấp xếp hạng tín dụng quốc gia nếu có sự gia tăng áp lực cán cân thanh toán hoặc có những rủi ro tài chính bất ngờ xuất hiện. Xếp hạng tín dụng có thể ổn định ở mức hiện nay nếu chúng tôi đánh giá rằng rủi ro đối với độ ổn định của khu vực tài chính đã giảm. Điều này có thể phản ánh việc thực thi thành công các chính sách nâng niềm tin vào đồng nội tệ, thu hẹp khu vực tư nhân và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhà nước.

TIÊU CHUẨN VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

- Phương pháp luận và giả định về xếp hạng tín dụng chính phủ, 30 Tháng Sáu 2011

Nguồn: Reuters, TEXT-S&P lowers Vietnam LC rating to 'BB-', 19/08/2011, URL: http://uk.reuters.com/article/2011/08/19/sp-idUSWLA392220110819
Dịch bởi Dự đoán kinh tế Việt Nam, 19 Tháng Tám 2011

Thứ Năm, tháng 8 18, 2011

Economic crisis in Vietnam


Economic crisis in Vietnam from Dự đoán kinh tế Việt Nam on Vimeo.


This video is intended to briefly summarize the current status quo of Vietnam’s economy, in which aspects even Vietnamese people do not realize its seriousness, and potential crash..

The video is for informational/educational purposes only. Feedback and further discussion are welcomed.
———————————–
Please share the video to whom that may be interested in the matter. :-)
Join us at (Google Translate probably needed):
facebook.com/​dudoankinhte
twitter.com/​dudoankinhte
dudoankinhte.wordpress.com
dudoankinhte.blogspot.com
———————————–
Special thanks to Sarnat, A., Phipps, R., Lewis, M. for their help making the video.

Thứ Ba, tháng 7 19, 2011

Tại sao nghị quyết 11 lại thất bại

Đã 5 tháng đã trôi qua từ khi bắt đầu thực thi nghị quyết 11 và chúng ta thường nghe thấy những bài viết tuyên truyền cho việc thực thi nghị quyết này đầy rẫy trên mặt báo. Tuy nhiên vào cuối tháng 5, Chính phủ Việt Nam đã thay đổi từ chính sách Tiền tệ Co rút sang chính sách Tiền tệ Bành trướng đã dấy lên nỗi lo ngại của giới quan sát kinh tế, tài chính trong nước và quốc tế. Còn con số chỉ tiêu lạm phát thì bị đẩy lên từ 7% lên 11,75%, 15% và hiện tại đang là 17%. Đời sống người dân giảm sút nghiêm trọng từ tác động của lạm phát.



Quay lại với vấn đề lạm phát, chúng ta thường biết rằng để giảm lạm phát thì phải giảm đi cung tiền của nền kinh tế bằng các biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ, nâng lãi suất cơ bản … Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam đã sai lầm khi không tính tới điều kiện đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam.

Thứ nhất, đại bộ phận dân chúng Việt Nam chi tiêu phần lớn thu nhập của mình vào các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, thuốc men, xăng dầu, quần áo v.v.. Đây là những loại cầu rất ít co giãn cho nên khi Ngân hàng Nhà nước rút tiền về hay không thì nó cũng không tăng hay giảm là bao. Nếu có nhiều tiền trong nền kinh tế thì nhu cầu này chuyển từ lượng sang chất và ngược lại.

Do đó, chúng ta có thể thấy rõ là trong 6 tháng qua, chỉ có mặt hàng thực phẩm,xăng dầu là tăng giá, các mặt hàng khác như thời trang, điện thoại di động, máy vi tính đều giảm giá và có những doanh nghiệp trong lĩnh vực này phá sản.

Thứ hai, bản chất của nền Kinh tế Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu dựa trên đầu tư công, phần đóng góp của khối Doanh nghiệp tư nhân chưa đúng tầm, trong khi các nhà cung cấp các mặt hàng thiết yếu kể trên, trừ xăng dầu thì đều do tư nhân nắm giữ. Chính phủ rút tiền về trong 1 diện chung, rộng và do đó các lãnh vực sản xuất hàng thiết yếu không có sự đầu tư cần thiết, dẫn đến bất ổn.

Còn các dự án vay nợ nước ngoài giải ngân cũng có thể coi là 1 hình thức đầu tư công. 1 năm kinh tế nội địa VN chỉ cần dậm chân tại chỗ thì FDI và ODA giải ngân vào VN đã chiếm 7-8% GDP, tăng trưởng chẳng qua là do cái số vốn mới này vào, và nó cũng chính là lạm phát, và là 1 trong những nhân tố đẩy lạm phát lên cao do sự thất thoát quá lớn từ tham nhũng. Hầu hết các dự án được phê duyệt này không mang tính chất đầu tư lâu dài cho nền kinh tế Việt Nam. Tư duy nhiệm kỳ khiến cho các lãnh đạo địa phương nhanh chóng phê duyệt để có tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, trong nhiệm kỳ cho địa phương mình lãnh đạo. Tác hại của những dự án này là làm nền kinh tế Việt Nam phình to ra nhưng không khỏe, năng suất lao động tại Việt Nam không tăng là mấy.

Thứ ba, khối doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chủ yếu vay vốn ngân hàng để tiến hành sản xuất. Trong khủng hoảng kinh tế, thị trường chứng khoán Việt Nam giảm điểm liên tục khiến cho họ không thể huy động được vốn sản xuất từ việc bán cổ phiếu đi. Đồng thời các ngân hàng tăng lãi suất khiến họ không thể vay vốn được cho các hoạt động sản xuất hàng hóa. Lời không đủ trả nợ ngân hàng, họ phải co cụm sản xuất trong khi tăng giá bán để bù lại số tiền lời trả cho ngân hàng, hoặc bị phá sản. Số cầm cự được do "1 mình 1 chợ" nên tăng giá bán, làm tăng lạm phát.

Trong khi đó, trong số dân tiêu thụ không giảm chi tiêu như đã giải thích ở điểm đầu tiên và do dân Việt Nam không sử dụng thẻ tín dụng bao giờ nên số cầu không giảm là bao, hoặc giảm ít hơn số cung.

Đó là những điều kiện đặc biệt tại nền kinh tế Việt Nam khiến cho việc thực thi nghị quyết 11 sẽ gặp thất bại hoàn toàn.

Chủ Nhật, tháng 6 26, 2011

Chính sách tiền tệ những tháng cuối năm: Đừng “đánh bùn sang ao”

“Việc công bố mua 3 tỷ USD từ trong dân, từ các doanh nghiệp, nghĩa là tung ra 60.000 tỷ đồng. Chẳng qua như là cách “đánh bùn sang ao”, trước đây là người dân, thương nhân giữ tiền thì giờ là Nhà nước. Giá trị kinh tế không hề tăng, thậm chí còn tạo ra lạm phát”… PGS.TS Đỗ Đức Định – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển xã hội đã bắt đầu cuộc trao đổi với phóng viên Đại Đoàn Kết như thê.

Trong thời gian vừa qua, nhiều chính sách liên quan đến ổn định cung cầu, kiềm chế lạm phát đã được triển khai thực hiện và phát huy tác dụng chẳng hạn chỉ số CPI đã bắt đầu chững, xuất khẩu tăng. Chặng đường kinh tế 6 tháng còn lại, liệu sẽ dễ chịu hơn?

Chúng ta đề ra những mục tiêu cụ thể như giảm lạm phát, duy trì tăng trưởng tương đối cao, đảm bảo an sinh xã hội, chống đô la hóa tốt, và trong ngắn hạn chúng ta đã làm được như thế. Chẳng hạn như chúng ta hỗ trợ điện trực tiếp cho người nghèo, chặn được mức tăng CPI tại hai đầu tàu kinh tế Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh từ mức trên 3 phẩy, xuống còn 1 phẩy. Nhưng, tất cả chỉ trong ngắn hạn, còn dài hạn vẫn không ổn, chúng ta triển khai sai cách thức. Chúng ta chống lạm phát nhưng tăng lưu thông VND trong khi hạn chế những hình thức thanh toán có giá trị cao là vàng và đô la. Nhiều nước khác khuyến khích dân mua vàng, đặc biệt là mua vàng làm trang sức xuất khẩu vì như thế vừa giữ được vàng, tạo việc làm. Việt Nam khác hẳn. Nếu thấy kinh doanh vàng lãi thì đánh thuế cao, sao lại đi cấm, lại kèm với “đăng ký”. Quản lý không được minh bạch, thì lại nảy sinh độc quyền, phân chia quyền lợi.

Một số nước thì tăng mua trái phiếu Chính phủ để giữ đồng đô la vì họ đặt trong mối tương quan, USD là đồng tiền có giá trị thật. Cách làm chúng ta là thắt chặt USD và vàng trong khi đó thả lỏng đồng tiền có giá trị thấp là VND. Chúng ta lạm dụng cách thức hành chính để ép mọi thứ vào khuôn nhưng đâu có dễ. Mặt trái của đồng đô la hóa làm mất giá trị tiền nội địa, nhưng mặt phải của nó là cấp vốn cho nền kinh tế nước ta, mà nền kinh tế nước ta tăng trưởng là nhờ vốn. Bây giờ chúng ta đột ngột giảm lãi suất USD từ 5% xuống 3%, còn ở Mỹ chỉ giảm 0, 25% cho mỗi lần. Đáng lẽ chúng ta mổ 5 cm thì chúng ta mổ 20 cm, chúng ta phanh bụng thì tốn thêm thuốc điều trị. Thời gian còn lại sẽ phải thêm băn khoăn về nguồn vốn được bảo đảm bằng vàng và đô la.
Trước đây chúng ta nói phát triển kinh tế theo thị trường có định hướng của Nhà nước, trong đó công ty chuyển dần về các bộ, từ các bộ tăng cường tính tự quản của công ty, trên đó tiến hành cổ phần hóa. Nhưng trong thời gian gần đây, chúng ta lại đi ngược lại. Thay vì giảm bao cấp, thì chúng ta ôm lấy tổng công ty, nghĩa là tăng bao cấp. Giờ đây lại còn bao cấp cả giải quyết nợ. Một tổng công ty khó khăn thì ngành khó khăn, và sau đó tác động lan truyền. Đấy là những mặt chìm.

Nhưng chính NHNN đã phát đi thông điệp, trong các tháng cuối năm, áp lực nguồn vốn đô la để nhập khẩu hàng hóa sản xuất sẽ không còn ghê như những năm trước nữa?
Chính NHNN nói là lượng đô la của kiều hối gửi về vẫn tăng cao nhưng tôi nghi ngờ. Trong khi quý 1 NHNN nói là giảm, thì đến quý 2 nói là tăng đến 35%, sao lại tăng nhanh và nhiều như thế. Người dân đang mua vàng miếng ngon lành thì bỗng dưng hạn chế. Vàng trong nước cũng luôn trái chiều với vàng thế giới. Tôi chỉ làm một phép tính, đầu năm giá vàng ở Việt Nam quy đổi chuẩn thế giới là 1.200USD/ounce nhưng hiện giờ là 1.500USD/ ounce. Nghĩa là trong 6 tháng tự chúng ta làm mất đi 300 USD /ounce. Cứ theo phép nhân với số luợng vàng nhập về, có thể chúng ta mất đi 10 tỷ USD chỉ để bù lỗ nhập vàng, mất nhiều tiền, giảm tăng trưởng. Áp lực vốn cho doanh nghiệp sản xuất sẽ lại khó hơn chứ không nhẹ hơn được.

Trong 3 tuần, thậm chí 1 tháng vừa qua, tỷ giá liên ngân hàng, tỷ giá tự do đã hạ nhiệt. Nếu không ổn định được ngoại tệ thì sẽ không có chuyện giảm tỷ giá?

Lãi suất USD chưa thay đổi thì đừng quá tự hào là tốt, bởi nói thật đồng vốn dắt lưng của nền kinh tế mình chưa tốt, chưa vững. Nhà nước công bố mua 3 tỷ USD từ dân, từ các công ty nghĩa là tung ra 60.000 tỷ tiền đồng. Chẳng qua là cách đánh bùn sang ao, trước đây là người dân, thương nhân giữ tiền thì giờ là nhà nước. Giá trị kinh tế không hề tăng, thậm chí còn tạo ra lạm phát. Chúng không hề làm tăng giá trị tiền đồng. 60.000 tỷ VND tung ra thị trường và thêm một số khoản tiền hỗ trợ cho tổng công ty nữa càng làm gia tăng lạm phát.
Mọi người đánh giá rằng năm 2011 có nhiều khó khăn, nhưng tôi chắc chắn không những thế mà còn phức tạp hơn. Trong ngắn hạn vài tuần, 1 tháng thì kinh tế nhìn bề nổi đang phát triển ổn định. Bản chất là nút thắt lạm phát đang khó gỡ, buộc phải đưa ra các biện pháp sốc, phanh giật cục và tái nghèo sẽ tăng và giảm chi phí chữa bệnh, giáo dục.

Vâng, xin cảm ơn PGS!
Thúy Hằng
đại đoàn kết

Nguồn: http://vietstock.vn/ChannelID/734/Tin-tuc/193226-chinh-sach-tien-te-nhung-thang-cuoi-nam-dung-danh-bun-sang-ao.aspx

Chảy máu ngoại tệ sẽ gây hậu quả to lớn thời gian tới (đăng ngày 5/6/2011)
http://www.facebook.com/note.php?note_id=216157058416675

Cùng lúc đó ngoại tệ sẽ cạn kiệt. CPVN hôm nay khoe “mua được” 1,2 tỉ USD (Dân Trí, 20/5/2011), nhưng đó là lố bịch, dị hợm, vì chẳng qua là ép dân bán ra, do lãi suất USD nay chỉ còn 2%, tăng dự trữ bắt buộc lên 7%, ép các cty vốn nhà nước trên 50% phải bán ngoại tệ lại cho NHNN (Vef, 3/6/2011).Chẳng qua là từ túi dân qua túi nhà nước, chứ KHÔNG phải bên ngoài vào.

Mà túi dân thì cạn xiều, hết đợt này là hết sạch, trong 2 tháng sẽ thiếu ngoại tệ nhập hàng – nhập siêu 1,7 tỉ USD/tháng (Tuổi Trẻ, 26/5/2011) – để nhập phân bón, thuốc trừ sâu, gia vị, thức ăn gia cầm, v.v… Khi đó, thiếu USD, giá sẽ tăng tự do, khi nhập về phải bán giá cao bù lại.