Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài dịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, tháng 7 13, 2012

Đã là quá đủ cho câu chuyện thành công tiếp theo ở châu Á



Thành phố Hồ Chí Minh – Tại cái nơi đã từng là một trong những thị trường đang nổi lên sôi động nhất châu Á, Nguyen Van Nguyen chỉ nhìn thấy phía trước là bầu trời ảm đạm. Kể từ năm 2008, công ty của ông ở thủ phủ kinh tế miền nam Việt Nam đã trải qua hai lần lạm phát rất đột ngột, đạt đỉnh vào tháng 8-2011 ở mức 23% – là mức lạm phát cao nhất châu Á vào thời điểm đó. Giờ đây, đề tự bảo hiểm trước rủi ro giá cả, ông chỉ nhận những đơn đặt hàng nhỏ từ nước ngoài cho nhà máy của mình – Bình Minh – nhà máy sản xuất mành trúc ở TP.HCM, từng một thời thịnh vượng. Ông bảo rằng khách hàng ở Australia, châu Âu, và Mỹ đều đã giảm bớt số đơn đặt hàng, sau khi nhu cầu toàn cầu suy thoái. Chi phí sản xuất trong ngành đã tăng xấp xỉ 30%, trong khi khách hàng chỉ còn sẵn sàng trả thêm chừng 10% nữa – theo ông Dang Quoc Hung, phó chủ tịch Hiệp hội Thủ công Mỹ nghệ và Đồ Gỗ ở TP.HCM. Ông Nguyen cũng thuê ít công nhân hơn cho mùa cao điểm là những tháng hè, và giảm lương của họ từ 200 USD xuống còn khoảng 120 USD/tháng. “Chúng tôi chỉ có thể làm chầm chậm thôi, mọi việc bây giờ khó khăn lắm” – ông than vãn như vậy hồi cuối tháng 6.

Thứ Ba, tháng 6 12, 2012

[The Diplomat] Thời kỳ phát triển kinh tế dễ dàng đã không còn ở Việt Nam

Tác giả: Bridget O’Flaherty
Người dịch: Dương Lệ Chi
10-06-2012
Sự lạc quan trong thời kỳ bùng nổ kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2008 đã không còn nữa. Đảng Cộng sản biết rằng họ phải hành động. Nhưng dường như họ chẳng biết phải làm gì.
Một bên của ngôi chợ Hoà Bình kiên cố và rộng lớn ở quận 5, TP Hồ Chí Minh, là một “ngôi chợ trời”, nơi những người bán hàng lắp các bóng đèn nhỏ trên hàng hóa và thịt cá của họ, và dây điện quấn vòng qua những chiếc ô dù lớn. Trong những dịp đặc biệt như ngày lễ, cảnh sát có thể xua đuổi họ, thậm chí bắt giữ hàng chục người buôn bán này. Đôi khi, hàng hoá bị tịch thu. Nhưng đó không chỉ là vấn đề của họ hiện nay.

Thứ Tư, tháng 4 18, 2012

Châu Âu tự sát kinh tế


LTS: Nghị quyết 11 của CP VN và chính sách kinh tế của châu Âu hiện tại đều có điểm chung là sử dụng biện pháp thắt chặt và khắc khổ. Và chính sách này đang đưa cả hai nền kinh tế tới sự sụp đổ toàn bộ nền kinh tế. Bài viết sau đây của giáo sư kinh tế người Mỹ Paul Krugman giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chính sách tự sát kinh tế của châu Âu. 

Chủ Nhật, tháng 1 22, 2012

Rốt cuộc nhà nước Việt Nam phải trả nợ cho Vinashin

Tác giả: Jonathan Rogers, chuyên mục Captial City, Tạp chí Tài chính Quốc tế

Người dịch: Quang – thành viên ban biên tập Dự đoán kinh tế

Nguồn: International Financing Review, Vietnam may end up paying for Vinashins defaults, 20/1/2012.
———————————————–

CHÚNG TA NGHĨ gì về Việt Nam? Chắc chắn phải là chiến tranh – thứ đã biến đổi nếp suy nghĩ của quốc gia này theo cách hết sức khó hiểu.

Có thể những bộ óc tiểu thuyết sẽ gợi lại tác phẩm Người Mỹ trầm lặng của Graham Greene trong năm 1950 và giả định của nó rằng Việt Nam sẽ không phát triển tốt dưới chủ nghĩa thực dân hoặc chủ nghĩa cộng sản mà là dưới một “Lực lượng thứ Ba” có cơ sở là sự kết hợp của các truyền thống địa phương.

Greene đã không nhắc tới việc quỵt nợ các nhà đầu tư nước ngoài như một truyền thống địa phương này. Nhưng các chủ nợ nước ngoài của tập đoàn đóng tàu Vinashin nhận thấy rõ ràng rằng họ đang hớ nặng khi đầu tư vào tham vọng quốc tế của quốc gia này.

Trở lại năm 2005, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã vẽ ra kế hoạch đẩy tỉ trọng của ngành công nghiệp biển quốc gia này lên tới 50% GDP vào năm 2020. Ông ta đề xuất dồn khoảng 200 công ty vận tải biển vào một tập đoàn – Vinashin – với mục đích rõ ràng là tạo nên tập đoàn đóng tàu biển lớn thứ 4 trên thế giới.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng

Ông ta đã quá phấn khích bởi bản kế hoạch hoành tráng này đến nỗi ông ta đã dự một cuộc họp với Standard & Poor’s để thúc đẩy việc xếp hạng một Vinashin non nớt ngang bằng tín dụng quốc gia.

S&P tuân theo yêu cầu này và Moody’s cũng vậy. Và Vinashin đã đat được một khoản vay trả góp 600 triệu đô la có thời hạn 8 năm thông qua Credit Suisse với lá thư ủng hộ từ chính phủ cam kết hỗ trợ Vinashin cả về hoạt động lẫn tài chính. Tham vọng vĩ đại của Việt Nam nhằm xây dựng nên một người khổng lồ vận tải biển dường như chuẩn bị thành hiện thực.

CHUYỂN SANG NĂM 2010 và tất cả trở nên tồi tệ. Chính phủ Việt Nam tuyên bố phát hiện sai phạm tại tập đoàn này nhưng không nêu cụ thể bao nhiêu tiền bị thất thoát hay thất thoát đi đâu.

Chính phủ Việt Nam nói rằng lãnh đạo Vinashin đã đầu tư hàng loạt vào các lĩnh vực ngoài ngành như du lịch, sản xuất xe máy và bất động sản. Nhiều cấp lãnh đạo Vinashin bị kỷ luật. Mọi chuyện trông có vẻ khả quan nếu như bạn không phải là một trong các chủ nợ của khoản vay 600 triệu đô la kia.

Các chủ nợ chính gồm có Credit Suisse, DEPFA, quỹ đầu tư mạo hiểm Elliott Advisors và Maybank. Dẫu cho họ phấn khởi khi Vinashin trả lãi của khoản vay vào tháng Sáu năm 2010 nhưng niềm vui này không kéo dài lâu khi tập đoàn này xù khoản nợ trả góp 6 tháng sau đó. Đồng thời Moody’s và S&P hạ xếp hạng tín dụng Việt Nam trùng với thời điểm đình chỉ xếp hạng Vinashin. Khoản vay đã chính thức vỡ nợ.

Sau đó Vinashin đồng ý tiến hành tái cơ cấu dưới sự giám sát của một ủy ban của các chủ nợ do Elliott và DEPFA làm đồng chủ tịch. Nhưng sau 9 tháng thương lượng quanh co, Vinashin đưa ra lời đề nghị khiến các chủ nợ “té ngửa”: Vinashin sẽ trả 35 cents trên mỗi đô la đi vay, hoặc (có lẽ trò cười vẫn còn nhạt) trái phiếu lãi suất 0% kỳ hạn 13 năm có giá trị tương đương 35 cents kia. Là một nhà đầu tư, bạn được quyền chọn ăn mứt hôm nay hay ngày mai nhưng có điều là có quá ít mứt để phết.

Nếu Việt Nam còn hy vọng tiếp cận các thị trường tài chính nước ngoài thì nó phải cố gắng tránh tạo ra tiền lệ ô nhục.

Elliott rời khỏi ủy ban giám sát sau khi nhận được đề nghị trên và khởi kiện Vinashin ra tòa án Anh dựa trên cơ sở rằng khoản vay được soạn thảo dưới luật Anh.

Elliott có thể dễ dàng thắng kiện tại tòa án Anh nhưng còn lâu mới có thể thi hành được phán quyết của tòa án nước ngoài tại nơi họ đầu tư tài sản.

NHƯNG còn có một rắc rối nữa có thể gây nản lòng ban lãnh đạo Vinashin và chính phủ Việt Nam. Đó là việc 2 tập đoàn quốc doanh lớn nhất Việt Nam, Vinalines và PetroVietnam đều là chủ sở hữu của một phần tài sản thuộc Vinashin theo sự tái cơ cấu do nhà nước chỉ đạo.

Việc vô tình sở hữu các đơn vị bảo lãnh cho khoản vay này có thể dẫn tới vỡ nợ dây chuyền cho những khoản vay của chính Vinalines và PetroVietnam.

Đó là vấn đề với PetroVietnam khi hãng này đang hỏi vay vốn 1,5 tỷ đô la để mua tài sản của hãng ConocoPhillips tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đang lo sợ rằng số cổ phần này sẽ rơi vào tay chính phủ Trung Quốc vốn đã không hài lòng với Việt Nam trong bối cảnh xung đột thường xuyên tại biển Đông.

Một giàn khoan dầu ngoài biển Đông

Nếu như khoản vay tự động vỡ nợ dây chuyền do bảo lãnh cho Vinashin, PetroVietnam hoàn toàn bị trói tay.

Sau chuyện lộn xộn này, bài học rõ ràng của các nhà đầu tư là phải cẩn trọng cực độ với những công cụ giúp tăng tín dụng như các lá thư ủng hộ và ngay cả bản thân xếp hạng tín dụng.

Sự phức tạp của vụ Vinashin này ở chỗ định chế vỡ nợ thực sự ở đây là một quốc gia chứ không đơn thuần là một tập đoàn. Nếu Việt Nam còn hy vọng tiếp cận thị trường tài chính nước ngoài trong tương lai thì phải cố tránh tạo ra tiền lệ ô nhục có thể ngăn nó tham gia sân chơi này.

Thứ Bảy, tháng 12 24, 2011

[Beyondbrics] Việt Nam: dường như dễ tổn thương

Ben Bland
Tqvn2004 lược dịch
Hiệu đính bởi Quang – thành viên ban biên tập Dự đoán kinh tế

Theo FT blog

Khi triển vọng kinh tế ở Mỹ và Châu Âu xấu đi từng ngày, các nhà đầu tư đang đặt câu hỏi: Quốc gia nào trong khu vực Đông Nam Á sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất bởi tác động mang tính dây chuyển của một cuộc suy thoái kép?

Leif Eskesen, một nhà kinh tế khu vực tại ngân hàng HSBC ở Singapore, tính toán rằng Việt Nam, quốc gia đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài của riêng mình, là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi phụ thuộc nhiều vào đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước hoạt động kém hiệu quả, khu vực ngân hàng gặp nhiều khó khăn, và tình trạng tài khóa tồi tệ.

Indonesia, quốc gia có thị trường nội địa lành mạnh và các doanh nghiệp có bảng cân đối tài sản khỏe khoắn, sẽ là quốc gia có khả năng vượt qua khủng hoảng dễ dàng nhất trong số các nền kinh tế lớn thuộc Đông Nam Á.

Để đánh giá khả năng bị tổn thương một cách tương đối giữa Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong cuộc khủng hoảng toàn cầu, HSBC đã xem xét 3 yếu tố:

- Nguy cơ đổ vỡ tràn lan, níu kéo lẫn nhau xuống hố giữa thương mại, tài chánh, và tín nhiệm của các nhà đầu tư;
- Sức mạnh bản tổng kết tài chính của các công ty và ngân hàng;
- Các sự lựa chọn trong chính sách tài khóa và các chính sách khác mà chính phủ có thể thay đổi để đối phó.

Eskesen cho năm quốc gia nói trên điểm từ 1 tới 5 cho mỗi yếu tố, và kết luận của ông sẽ đặc biệt khó chịu đối với quan chức và các nhà đầu tư Việt Nam.

Indonesia dẫn đầu nhóm với một số điểm trung bình là 2, kế đến là Malaysia (2.3), Thái Lan (2,7) và Philippines (3) không quá xa phía sau. Nhưng Việt Nam đứng dưới cùng của nhóm, bởi Eskesen cho điểm 5 đối với tất cả các yếu tố.

Tại sao Việt Nam bị đánh giá tệ như thế? Eskesen viết:
Ở Việt Nam, nguy cơ đổ vỡ hàng loạt bị làm trầm trọng hơn bởi các mất cân đối bên ngoài (thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, và dự trữ ngoại hối thấp) và bên trong (lạm phát cao, thâm hụt ngân sách lớn, và bảng cân đối tài sản yếu của doanh nghiệp). Việt Nam cũng không còn nhiều biện pháp có thể xoay xở tình hình.
Với sự nhạy cảm của các quan chức trong chế độ một đảng do Đảng Cộng sản cai trị, thì các số liệu và phát hiện của HSBC có thể sẽ không được báo chí nhà nước gấp rút đăng tải. Cách đây ít lâu, các cán bộ cấp cao đã chỉ thị cho các nhà báo địa phương không được đưa tin Việt Nam đang phải gánh chịu tỷ lệ lạm phát cao nhất Châu Á (19,8% tính theo cùng kỳ năm trước).

Tuy nhiên, mượn câu cách ngôn của Warren Buffett [*], trong khi Việt Nam là quốc gia dễ bị tổn thương nhất, các quốc gia khác cũng khó tránh khỏi tình huống bị nhìn thấy đang bơi truồng, nếu thủy triều lùi ra quá xa.

Toàn bộ khu vực sẽ bị tổn thương, Eskesen đã viết, nếu thế giới phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới, một cuộc khủng hoảng tồi tệ tương tự như cuộc khủng hoảng năm 2008-2009, “thậm chí là còn tồi tệ hơn, nếu xét đến các nền kinh tế phát triển có ít các lựa chọn hơn trong khoảng thời gian này”.

Eskesen kết luận:
“Dù các quốc gia mới nổi, bao gồm cả ASEAN-5, có một số năng lực để thực hiện các chính sách chống lại chu kỳ suy thoái, thì họ giờ đây cũng có ít lựa chọn hơn so với ba năm trước”.
____________________
[*] Cách ngôn của Warren Buffett: “Chỉ khi thủy triều lùi ra xa, bạn mới biết ai đã cởi truồng đi bơi”.

Thứ Hai, tháng 12 12, 2011

[Bloomberg] Chỉ số chứng khoán Việt Nam có thể sụt giảm xuống dưới 300 điểm, CTCK MHB cho biết

Tác giả: Nguyễn Diệu Tú Uyên và Darren Boey
Dịch: Quang – thành viên ban biên tập Dự đoán kinh tế
Bài gốc: Bloomberg, Vietnam Stock Index May Drop Below 300, MHB Securities Says, 12/12/2011

Hoàng Thạch Lân, trưởng bộ phận môi giới của công ty cổ phần chứng khoán MHB có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh, cánh tay đầu tư cổ phiếu của Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (Mekong Housing Bank) bình luận về thị trường chứng khoán trong nước.

Chỉ số VN Index của sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã sụt giảm ngày thứ 5 liên tiếp, mất 0,7% số điểm và còn 374,52 điểm.

Về thị trường chứng khoán:

“Thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục giảm điểm và có thể xuống dưới 300 điểm trước Tết Nguyên Đán vào cuối tháng 1”. Dựa trên số liệu của Bloomberg, đó là điểm số thấp nhất kể từ tháng Tư năm 2009.

“Các nhà đầu tư đang hoàn toàn bi quan trước thông tin lợi nhuận doanh nghiệp trong năm nay và nghi ngờ về triển vọng kinh tế sáng sủa hơn trong năm tới. Có tới 80% cổ phiếu trên sàn thành phố Hồ Chí Minh sụt giảm số lượng giao dịch xuống còn vài ngàn cổ một ngày.

“Tuy nhiên, cả cổ phiếu và bất động sản sẽ tăng bật lại nếu như chính phủ có động thái hỗ trợ thị trường vì đang có quá nhiều nhà đầu tư giữ tiền song không biết nên đầu tư vào đâu và vào thời điểm nào.”

Về các công ty chứng khoán:

“Sự suy sụp của thị trường đã khiến hầu hết các công ty chứng khoán đối mặt với các khó khăn tài chính. Hơn một nửa các công ty chứng khoán sẽ thua lỗ trong năm nay.

“Có khoảng 50 tới 60 các công ty chứng khoán kiếm cách bán cổ phần cho các nhà đầu tư ngoại quốc để đổi lấy quan hệ đối tác chiến lược, nên bạn sẽ thấy có nhiều hơn nữa các thương vụ sáp nhập và thâu tóm trong năm tới.

Thứ Năm, tháng 11 24, 2011

[Reuters] Việt Nam, bị tàn phá bởi những tai ương kinh tế, đang chuẩn bị những cải cách mới

Tác giả: John Ruwitch và Trần Lệ Thùy
Dịch: Lê Quốc Tuấn – x-cafevn.org
Hiệu đính: Quang – thành viên ban biên tập Dự đoán kinh tế
Bài gốc: Reuters, Vietnam, wracked by economic woes, plans new reforms, 13/11/2011
http://www.reuters.com/article/2011/11/14/us-vietnam-economy-reform-idUSTRE7AD09V20111114

Trời đêm Hà Nội nhìn từ một cao ốc, tháng 11.2011


HÀ NỘI | Chủ Nhật 13 Tháng Mười Một, 2011 11:46pm EST

 

(Reuters) – Sau bốn năm bất ổn kinh tế, Việt Nam đang bắt tay vào một số cải cách mà một số người tin là quan trọng nhất kể từ các bước khởi đầu vào năm 1986. Đó là năm chấm dứt cơ chế kế hoạch hóa tập trung ngột ngạt và, rốt cuộc đã biến quốc gia bị chiến tranh tàn phá này thành một con hổ kinh tế.


Tuy nhiên, có hoài nghi lớn cho rằng các nhà hoạch định chính sách có thể né tránh sự chống cự các thay đổi lớn đến từ những tập đoàn quốc doanh và các nhóm lợi ích khác, bao gồm cả các tập đoàn tư nhân đã gia tăng ảnh hưởng đáng kể.

Nhiều tháng trời bàn thảo căng thẳng đã đem lại sự đồng thuận rằng Việt Nam, sau khi bị tàn phá bởi mức lạm phát tồi tệ nhất châu Á và các tai ương khác, cần phải thay đổi đường lối như đã làm 25 năm trước khi chính sách “Đổi Mới” cất cánh.

“Bây giờ là nghiêm túc, không chỉ là chuyện nói bàn nữa”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông đã nói với Reuters. “Chúng tôi đã đã trải qua quá trình phân tích cẩn thận, đau đớn để nhìn nhận các khiếm khuyết và các lĩnh vực cần cải thiện ở đâu”.

Tuy nhiên khó biết chắc rằng chính phủ sẽ theo đuổi những cải cách đủ sâu và rộng để cứu chữa các ngân hàng quốc doanh ngập nợ và kiểm soát các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động không hiệu quả như Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin, từng vỡ nợ đầy xấu hổ hồi năm ngoái.

“Một lần nữa, kinh tế Việt Nam lại đứng ở ngã ba đường”, ông Lê Đăng Doanh, một kinh tế gia có đầu óc cải cách, đã từng cố vấn cho giới lãnh đạo hiện tại và trước đây cho biết.

Và lần này, theo quan điểm của Doanh, dịch chuyển dứt khoát theo đường lối cải cách là “khó khăn hơn bởi vì việc ấy động chạm đến các nhóm lợi ích lớn hoạt động đằng sau hậu trường”.

THAY ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Khi nền kinh tế hấp hối tại ngã ba đường vào giữa những năm 1980, công cuộc tự do hóa cởi trói cho các cá nhân và các ngành công nghiệp đã khiến Việt Nam trở thành một ngôi sao đang lên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngôi sao ấy đã lụi tàn, và đất nước đã thoái hóa từ một trong những nền kinh tế hứa hẹn nhất của châu Á thành một trong những nền kinh tế bất ổn nhất.

Chính phủ hy vọng sẽ thay đổi được mô hình tăng trưởng kinh tế của mình khỏi sự phụ thuộc vào nguồn vốn và lao động rẻ, đã chỉ ra ba lĩnh vực phải tập trung cải cách – ngân hàng, chi tiêu công và doanh nghiệp quốc doanh – nhưng không hề dự kiến là sẽ công bố một cải cách đơn lẻ “siêu lớn”.

Những người ủng hộ thay đổi lớn hy vọng chính phủ có thể mở ra một loạt cải cách lớn như tiến trình Đổi mới trước đây; Đổi mới đã được khởi xướng vào năm 1986 nhưng đã không tăng tốc cho đến đầu những năm 1990, và theo thời gian Việt Nam đã chuyển đổi từ cảnh ngộ tàn phế sau chiến tranh thành một cường quốc khu vực đầy triển vọng.

Có những người lạc quan tin rằng Việt Nam sẽ tiến hành chuyển đổi quan trọng để loại bỏ những gì mà Ngân hàng Thế giới gọi là sự bất ổn kinh tế “định kỳ và ngày càng nghiêm trọng” của Việt Nam.

Deepak Mishra, kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới, người từng mô tả Việt Nam như một bãi “hoang địa”, đã được khích lệ bởi việc nhiều quan chức đang nói về sự thay đổi.

“Không một ai từng thấy được tình trạng như thế này trong thời gian qua”, Mishra nói. “Linh cảm của tôi là chúng ta sẽ không nhìn thấy rõ quy mô lớn của lộ trình tương lai của hành động tức thì trong hiện tại, nhưng sau 5 hoặc 10 năm khi nhìn lại chúng ta có thể nói, đúng thế, đã có một thay đổi thực sự bắt đầu vào năm 2011″.

Các kinh tế gia đồng thuận về những gì mà nhà nước nên làm. Phạm Chi Lan, một kinh tế gia đáng kính đã được các nhà lãnh đạo hàng đầu vời đến trong những tuần gần đây để thảo luận về các tai ương của đất nước.

Nhưng rồi vẫn có một câu hỏi lớn: các lãnh đạo sẽ đưa ra một chương trình nghị sự về tái cơ cấu lớn đến mức nào ?

“Nếu giới lãnh đạo chấp nhận điều này”, Lan cho biết, “họ sẽ đưa đất nước này vào lần Đổi mới thứ hai”.

CẢI CÁCH HOẶC TỤT HẬU

Có rất ít tranh cãi về các thách thức.

Lạm phát đã tăng trên 20% hai lần trong ba năm qua trong khi dự trữ ngoại hối sụt giảm, và tiền đồng Việt Nam đã bị mất giá hơn 20% so với đồng USD. Nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng  nhiều so với các quốc gia tương đương lên hơn 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong khi tỷ lệ dư nợ tín dụng so với GDP đã tăng đến 125%.

Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh, cho đến nay đã giảm 22% trong năm nay so với cùng kỳ năm 2010. Năm ngoái, cả ba cơ quan xếp hạng lớn – Fitch, Moody và Standard & Poor’s đã hạ cấp hạng tín dụng của đất nước gần 90 triệu người này.

Các chuyên gia cho rằng gốc rễ song đề bùng-vỡ của Việt Nam nằm ở việc đầu tư quá mức của những tập đoàn quốc doanh không hiệu quả. Đó là nơi đã hút sạch vốn liếng và chuyển đổi năng lực cốt lõi của họ sang đa dạng hóa đầu tư đầy cẩu thả vào các lĩnh vực như bất động sản và cổ phiếu – vốn đều đã bị chập choạng.

Sự tăng trưởng kể từ khi Đổi Mới dựa trên tăng vốn đầu tư và lao động, nhưng điều đó ngày càng ít có khả năng léo lái nền kinh tế, Nguyễn Đình Cung, Phó Chủ tịch một cơ quan tư vấn hàng đầu của chính phủ, đã nói trong một báo cáo vào tháng Chín, vốn được coi nền tảng cho các cuộc thảo luận về của cải cách của chính phủ.

“Nền kinh tế của chúng ta không còn khả năng duy trì tỉ lệ tăng trưởng cao như những năm trước”, Cung – thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương (CIEM) đã viết.

Trong tháng Bảy, một đợt luân chuyển cán bộ lãnh đạo năm năm một lần dường như đã dọn đường cho cải cách.

“Chúng ta phải cải cách,” ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và cựu thống đốc ngân hàng trung ương đã tuyên bố. “Nếu không, điều đó sẽ nguy hiểm. Nền kinh tế sẽ bị tụt hậu và niềm tin của nhân dân sẽ sụt giảm”.

KHÔI PHỤC NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN

Kiêm cho biết Bộ Chính trị, nhóm 14 người ở đỉnh cao quyền lực chính trị, đã kết luận rằng cải cách là cần thiết để “khôi phục lại niềm tin của nhân dân”. Lãnh tụ Đảng Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra tín hiệu mạnh nhất và công khai nhất từ cấp cao nhất về cải cách, kể lể dài dòng về những trở ngại trong một bài phát biểu ngày 10 tháng Mười.

Trọng đổ lỗi cho hoàn cảnh quốc tế cũng như “các khiếm khuyết trong nền kinh tế, mô hình tăng trưởng không hiệu quả và cơ chế kinh tế lạc hậu”.

“Chúng ta phải tái cơ cấu nền kinh tế cùng với đổi mới mô hình tăng trưởng”, ông nói, đưa ra ba ưu tiên: đầu tư công, tài chính và các tập đoàn quốc doanh.

Trần Đình Thiên, Giám đốc Viện Kinh tế Việt Nam thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam của nhà nước, nói rằng bài phát biểu có nghĩa là “thông báo hành động, rằng toàn đảng đã đồng ý về tái cơ cấu nền kinh tế”.

Việc bàn bạc về cải cách đã tiến triển kể từ mùa hè. Một số đề nghị hiện hữu có khả năng thay đổi căn bản mối quan hệ giữa chính phủ với kinh doanh và sẽ định hình lại nền kinh tế.

Các ban bệ Chính phủ đã được lệnh phải tái cơ cấu lại bản thân như thế nào, và doanh nghiệp nhà nước đã được lệnh thoái vốn khỏi các lĩnh vực kinh doanh ngoài ngành.

Trong tháng Chín, Bộ Tài chính đã đề xuất rằng chính phủ bắt buộc các doanh nghiệp quốc doanh phải hoàn lại 50% lợi nhuận của họ cho nhà nước và cắt giảm từ 10 đến 30% việc đầu tư ngoài ngành bao gồm bảo hiểm, ngân hàng và chứng khoán.

QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo một kế hoạch để tách quyền sở hữu và quản lý tại những doanh nghiệp quốc doanh lớn nhất, chẳng hạn như nhóm Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

Lan, kinh tế gia được mời nói chuyện với giới lãnh đạo, cho biết “Đó là một kế hoạch kiên quyết, trong đó các tập đoàn quốc doanh phải tuân theo những tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp OECD. Kế hoạch này cũng bắt chước theo Trung Quốc trong việc có tiêu chí rõ ràng về năng suất và tiến bộ khoa học kĩ thuật, thay vì về đầu tư và doanh thu”.

Các quan chức đã ra tín hiệu rằng kênh dẫn dài tắc nghẽn phát hành lần đầu ra công chúng sẽ được khai thông, và khối doanh nghiệp quốc doanh lớn thua lỗ không được đấu giá trước đây sẽ được bán cho dù chưa rõ ràng thời điểm bởi tình hình thị trường tồi tệ.

Chính phủ cũng đang xem xét việc bán các doanh nghiệp quốc doanh trong các ngành công nghiệp mà có các doanh nghiệp tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tốt, bao gồm hải sản, dệt may và cà phê trong khi vẫn giữ lại quyền sở hữu về vận tải, dầu khí, và điện lực.

Ngày 24 tháng Mười, Thủ tướng đã lệnh cho thành lập một ủy ban tư vấn về Chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang làm việc để đẩy lùi một cuộc khủng hoảng ngân hàng bằng cách dàn xếp hợp nhất cho lĩnh vực đông đúc này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu NHNN soạn thảo một kế hoạch tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại.

LỀ MỀ CHẬM CHẠP

Các sáng kiến có đơm hoa kết trái hay không, còn tùy thuộc vào việc giới lãnh đạo thống nhất ra sao và các nhóm lợi ích như các doanh nghiệp quốc doanh lề mề đến đâu.

Trọng, lãnh tụ đảng, rõ ràng là người ủng hộ hành động. Các nguồn tin cho biết Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, một nhận vật nặng ký khác của đảng, cũng đã nói đến một chương trình nghị sự cải cách mới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gặp các kinh tế gia trong nước và quốc tế. Những người tham dự nói rằng các cuộc họp thẳng thắn và quan trọng một cách khác thường và Dũng thể hiện sự am hiểu về những khó khăn.

Nguồn tin cho biết nhân vật cố vấn thân cận cho Dũng hiện nay là ông Trương Đình Tuyển, cựu Bộ trưởng thương mại có đầu óc cải cách, biệt danh là Mr. WTO vì vai trò đàm phán của ông trong việc Việt Nam vào Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2006.

Tuy nhiên, một số nhà phê bình vẫn không tin vào sức thuyết phục của Dũng, người mà chính sách quản lý kinh tế trong nhiệm kỳ năm năm đầu tiên của ông đã tạo nên các khó khăn hóc búa hiện nay.

Các nhà phân tích bao gồm cả Carl Thayer, nhà quan sát tình hình Việt Nam của Đại học New South Wales nói rằng Dũng đã nổi lên từ luân chuyển lãnh đạo như một nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất.

Doanh, kinh tế gia từng cố vấn chính phủ, cho biết kế hoạch cải cách mà lãnh tụ đảng Trọng vạch ra đã có một “cái nhìn nghiêm túc và thẳng thắn hơn” vào những khiếm khuyết so với báo cáo của chính phủ đến Trung ương Đảng – ám chỉ một sự bất đồng có thể có giữa đảng và chính phủ.

BẢN BÁO CÁO “RẤT MÙ MỜ”

Ông Doanh cho biết, bản báo cáo của chính phủ “rất mù mờ” về cải cách doanh nghiệp quốc doanh, một bộ phận quan trọng của bất kỳ chương trình cải cách thực sự nào.

Khu vực nhà nước đang co cụm lại và hiện chiếm khoảng 40% nền kinh tế, nhưng lại dùng một phần quá lớn của chiếc bánh đầu tư.

Như một chỉ hướng cho thấy mọi điều có thể dẫn về đâu, bản báo cáo của Cung thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương đề xuất cắt bỏ hoàn toàn những đặc quyền của các doanh nghiệp nhà nước, buộc họ phải sống hoặc chết bởi thị trường.

Cung đã viết: “Nếu họ thua lỗ và vỡ nợ, họ phải bị phá sản như các doanh nghiệp khác, Nhà nước không cần phải bảo đảm hoặc thanh toán nợ”.

Nhưng nói thì dễ, Doanh nói. Ông và các nhà phân tích khác lo lắng rằng hoàn cảnh hiện tại có thể chưa đủ “đau đớn” để các nhà lãnh đạo phải thực hiện những biện pháp thật sự táo bạo.

“Đôi khi ta nghe thấy những lời hùng hồn nhưng cái ta cần là hành động, chứ không phải lời hoa mỹ ” nhà cựu quan chức cho biết.

Những lợi ích cố thủ có thể đã làm trì trệ mọi thứ.

Cuối tháng Mười vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết họ vẫn chưa hoàn thành được đề nghị cải cách doanh nghiệp nhà nước vì đã không thể có được số liệu từ các công ty.

Các phương tiện truyền thông nhà nước tường thuật rằng, các doanh nghiệp quốc doanh cũng chống lại kế hoạch của Bộ Tài chính nhằm hạn chế các đầu tư của họ trong các ngân hàng, công ty bảo hiểm và chứng khoán.

“Khó khăn chính là, những cải cách ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của một số lực lượng mà cơ chế quản lý lệ thuộc vào”, ông Thiên thuộc Viện Kinh tế Việt Nam, và thuộc Hội đồng tư vấn cho chính phủ về chính sách tài chính nhận xét. “Nhưng việc không tái cơ cấu nền kinh tế không còn là một lựa chọn nữa”.

(Richard Borsuk biên tập)

Thứ Sáu, tháng 11 11, 2011

[Thông cáo báo chí] S&P điều chỉnh đánh giá BICRA về Việt Nam từ nhóm ‘9’ lên nhóm ‘10’

LTS: Với điểm 1 là tốt nhất, 10 là tệ nhất, S&P đánh giá:

1. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam có nguy cơ sụp đổ cao nhất thế giới, 10/10. Hai quốc gia khác có cùng nguy cơ này là Hy lạp và Belarus;

2. Nền KT Việt Nam đang gặp nguy hiểm nhất thế giới, 10/10, do ít nhất ba lý do:

2.1. Không thể chịu đựng, đối phó nổi một cơn sốc kinh tế, tài chánh,

2.2. Nền KT bị mất cân đối nghiêm trọng vào bậc nhất

2.3. Tín dụng đang ở vào tình trạng tối nguy hiểm;

==> Đây là overtures mở đầu cho một vòng đánh SỤT TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM trong thời gian rất gần đây, có thể tính từng ngày, hoặc tuần.

Bản đánh giá của S&P đã không thể qua mắt các nhà đầu tư ngoại quốc.

Đa số họ có news subscription từ các cty như S&P, Fitch, Moody’s, vi khỏi phải tốn thời gian tự tìm tài liệu, tin tức, chỉ cần bỏ tiền ra mua subscription về tin VN, ĐNÁ, thì mỗi ngày vài lần họ nhận emails về các việc thế này.

Khỏi cần ai dạy bảo, các nhà đầu tư ngoại quốc tự biết họ phải làm gì.

CAPITAL FLIGHT là chắc chắn, trong thời gian rất gần đây. Ngoại quốc sẽ bán đổ bán tháo bỏ chạy, bỏ của chạy lấy người.

Và nên nhớ đây là đánh giá tệ nhất có thể cho CẢ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ NỀN KT VIỆT NAM, trong khi bên Hy lạp, Belarus, thì chỉ nền KT là bị đánh giá cùng hạng với VN, nhưng HỆ THỐNG NGÂN HÀNG tư nhân của 2 nước này không bị coi là NGUY HIỂM TỘT ĐỈNH như VN.

Xin nhắc lại lần nữa, cả HỆ THỐNG NGÂN HÀNG và NỀN KT VN bị S&P đánh giá là TỒI TỆ NHẤT THẾ GIỚI, không mức độ nào tệ hơn.

Ngay cả Zimbabwe, Pakistan, cộng hòa Chad, Công gô, cũng không tệ như VN.

==> HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM, NỀN KINH TẾ VIỆT NAM CHẮC CHẮN 100% SẼ SỤP ĐỔ TRONG THỜI GIAN RẤT GẦN ĐÂY.
————————————————

(Tuyên bố sau đây đã được phát hành bởi cơ quan xếp hạng)

9 tháng 11

TỔNG QUÁT
– Chúng tôi xem xét lại Đánh giá Rủi ro Hệ thống Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sau khi công bố thay đổi phương pháp luận.

– Chúng tôi điều chỉnh Đánh giá Rủi ro Hệ thống Ngân hàng Quốc gia (BICRA) của Việt Nam từ “Nhóm 9″ lên “Nhóm 10″ do thay đổi phương pháp luận.

– Chúng tôi cũng điều chỉnh mức độ rủi ro kinh tế Việt Nam từ ‘9’ lên ‘10’, và đánh giá rủi ro ngành là ở mức điểm ‘8’.

HÀNH ĐỘNG CỦA BICRA
Ngày 09/11/2011, Dịch vụ Xếp hạng Tín dụng Standard & Poor’s điều chỉnh Đánh giá Mức độ Rủi ro trong Hệ thống Ngân hàng (BICRA) của Việt Nam từ ‘Nhóm 9’ lên ‘Nhóm 10’ do thay đổi phương pháp luận. Tổ chức này cũng gia tăng mức độ rủi ro của nền kinh tế từ ‘9 điểm’ lên ‘10 điểm’ và đánh giá độ rủi ro ngành ở mức ‘8 điểm’.

LÝ DO
Chúng tôi đánh giá mảng ngân hàng của Việt Nam bằng phương pháp luận BICRA mới cập nhật của chúng tôi. Các nhóm BICRA thể hiện quan điểm của chúng tôi về rủi ro của một ngân hàng hoạt động trong một quốc gia đối mặt cũng như một hệ thống ngân hàng cụ thể phải đối mặt so với mức độ rủi ro tại các hệ thống ngân hàng khác. Nhóm ‘1’ là nhóm có mức độ rủi ro thấp nhất còn Nhóm ‘10’ là nhóm có mức độ rủi ro cao nhất. Các quốc gia khác thuộc nhóm BICRA 10 là Hy Lạp và Belarus.

Mức điểm rủi ro kinh tế “10” của chúng tôi cho Việt Nam phản ánh “rủi ro nghiêm trọng” đối với sự linh hoạt của nền kinh tế, sự mất cân bằng kinh tế và rủi ro tín dụng “tối nguy hiểm” của nền kinh tế.

Việt Nam là nước có thu nhập thấp, hệ thống tài chính và khung chính sách còn đang phát triển. Những điểm yếu này càng nâng cao khả năng dễ bị tổn thương của nền kinh tế trước những cú sốc lớn. Những viễn cảnh tăng trưởng lạc quan được hỗ trợ bởi nỗ lực bền bỉ của chính phủ trong việc tái cấu trúc nền kinh tế, phần nào bù đắp những điểm yếu này.

Chúng tôi cho rằng Việt Nam có nguy cơ mất cân bằng kinh tế nghiêm trọng, thể hiện qua tăng trưởng tín dụng nhanh trong vòng vài năm qua. Tăng trưởng mạnh về giá nhà đất cũng góp phần vào mức độ rủi ro khi giá cả rớt mạnh.

Việc đánh giá “rủi ro tín dụng tối nguy hiểm” của nền kinh tế Việt Nam dựa trên mức tín dụng khu vực tư nhân cao, mức thu nhập thấp và tiêu chuẩn bảo lãnh thô sơ. Theo quan điểm của chúng tôi, hệ thống pháp luật thiếu hiệu quả có thể khiến hồi phục chậm và chậm trễ trong giải quyết tài sản kê biên.

Trong khi đó, mức điểm rủi ro ngành ‘8’ phản ánh độ rủi ro “tối nguy hiểm” đối với khung chính sách, “rủi ro nghiêm trọng” đối với động lực cạnh tranh và “rủi ro trung bình” đối với việc cấp vốn trong toàn hệ thống.

Quan điểm của chúng tôi về khung chính sách của Việt Nam là tiêu chuẩn khung chính sách của Việt Nam còn thiếu các tiêu chuẩn quốc tế và ngân hàng trung ương dễ bị tổn thương trong chính các thỏa thuận của mình. Chúng tôi không tin rằng một hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả có thể sử dụng như công cụ giám sát ưu tiên. Chúng tôi nhận thấy can thiệp chính sách thường là đối phó hơn là chủ động. Quan điểm của chúng tôi là khung chính sách càng yếu hơn do sự yếu kém trong điều hành và minh bạch. Hầu hết các ngân hàng không công bố báo cáo tài chính kịp thời, và thường không đầy đủ chi tiết.

Trong đánh giá của chúng tôi về động lực cạnh tranh, rủi ro cho các ngân hàng chỉ ở mức trung bình và chủ yếu ở tăng trưởng. Chúng tôi nhận thấy thị trường đang bão hòa tương đối dẫn đến cạnh tranh giữa các ngân hàng cả về vốn vay và tiền gửi. Chúng tôi cho rằng áp lực lãi suất biên ròng tạo sức ép tới khả năng định giá đầy đủ rủi ro của các tổ chức tài chính nhỏ và yếu. Hơn nữa, chúng tôi tin rằng hệ thống ngân hàng bị méo mó do việc áp dụng thường xuyên các mệnh lệnh hành chính.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam, được hỗ trợ bởi lượng tiền gửi lõi của khách hàng ở mức ổn định, ít phụ thuộc vào các nguồn vốn bên ngoài. Tuy nhiên, có rất ít các nguồn vốn khác cho các ngân hàng sử dụng cho thấy thị trường vốn nội địa của Việt Nam rất eo hẹp và yếu. Chúng tôi tin rằng chính phủ vẫn đóng vai trò hỗ trợ trong nguồn vốn cho các ngân hàng nếu cần.

Chúng tôi đánh giá chính phủ Việt Nam “hỗ trợ cao” cho các ngân hàng trong nước. Chúng tôi đã theo dõi được sự hỗ trợ dành cho các tổ chức quan trọng trong hệ thống, bao gồm việc bơm vốn.

TIÊU CHUẨN VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
– Giả thuyết và Phương pháp luận Đánh giá Rủi ro Hệ thống Ngân hàng Quốc gia, 9 tháng Mười Một, 2011

– Standard & Poor’s BICRAs Nhấn mạnh sự Thay đổi Cân bằng trong Ngân hàng toàn cầu, 9 tháng Mười Một, 2011

– S&P’s BICRAs Dự liệu Rủi ro Ngân hàng của 86 Quốc gia, 9 tháng Mười Một, 2011

Nguồn: Reuters, TEXT-S&P: BICRA on Vietnam revised to Group ’10′ from Group ’9′, 9/11/2011, URL: http://www.reuters.com/article/2011/11/09/idUSWLA880420111109

Dịch bởi Dự đoán kinh tế Việt Nam, 11 Tháng Mười Một 2011

Thứ Bảy, tháng 10 01, 2011

Thấu hiểu: Bài học đắt giá cho Việt Nam từ suy thoái bất động sản

Tác giả: John Ruwitch và Trần Lệ Thùy
Dịch: ẩn danh
Hiệu đính: Quang – thành viên ban biên tập Dự đoán kinh tế

Bài gốc: Reuters, Insight: Hard lessons for Vietnam as property slumps, 23/09/2011
http://www.reuters.com/article/2011/09/23/us-vietnam-property-idUSTRE78M10H20110923
 


A general view of Hanoi's skyline September 7, 2011
Credit: Reuters/Kham


HÀ NỘI | Thứ Sáu 23 Tháng Chín, 2011 12:12am EDT

(Reuters) – Giống như nhiều người muốn kiếm tiền dễ dàng trong thị trường bất động sản Việt Nam, Nguyễn Thu Hương vay 500 triệu đồng (24.000 USD) từ một ngân hàng hồi tháng Tư để mua một căn hộ mới mà cô ta thật sự không cần đến, mục đích chỉ chờ bán. Câu hỏi duy nhất cô ta nghĩ đến lúc đó là sẽ lời lớn đến mức nào.

Năm tháng sau, nếu bán được là cô ta may lắm rồi.

Thị trường bất động sản đã đứng chựng, bị tấn công ở mọi mặt vì lạm phát tăng vọt, mức tiền lời cao ngất trời và sự cắt giảm cho vay. Các nhà thầu xây cất đang cho dừng lại các đề án đang làm hoặc trì hoãn các đề án mới. Giá bất động sản đang rớt xuống từ mức cao chóng mặt của những năm 2006, 2007 và các nhà môi giới còn đón chờ thêm nhiều thua lổ trước mặt.

“Thị trường bất động sản đang ở tình trạng tồi tệ nhất,” ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai và một trong những triệu phú về bất động sản tầm cỡ nhất được biết đến tại Việt Nam đã nói vậy.

“Tôi dự đoán thị trường sẽ còn tiếp tục đi xuống.”

Nhìn lại bốn năm trước, các nhà đầu cơ đã xếp hàng để mua các địa ốc cũng như các nhà thầu xây cất tiến hành xây dựng toàn bộ các khu đô thị tại một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Điều này khuấy lên kỳ vọng rằng quốc gia Cộng Sản của gần 90 triệu người (Việt Nam) sẽ sớm bước vào một kỷ nguyên mới của sự thịnh vượng.

Giờ đây, các cao ốc văn phòng trống rỗng và khu phức hợp căn hộ xây dựng dở dang tăng lên một nửa từ những đường phố đông nghịt. Nó đang đe dọa tới những mảng kinh doanh lớn của ngành ngân hàng, nơi có khoảng 10% các khoản nợ xấu được chính thức niêm yết là liên quan đến bất động sản.

Số tiền thực tế có thể cao hơn và chưa tính đến hàng tỉ đô la trong các khoản vay khác có tài sản thế chấp.

Tình hình suy thoái diễn biến phức tạp có thể sẽ làm sự phục hồi kinh tế gặp nhiều khó khăn mà các nhà kinh tế đã kỳ vọng về một sự chuyển biến sau gần một năm lạm phát hai con số.

“Tôi sợ rằng chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ của thị trường nhà đất nhưng chúng ta chưa chứng kiến một Lehman Brothers thứ 2″, ông Jonathan Pincus, Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh, ám chỉ tới sự sụp đổ của nhà đầu tư bất động  sản một thời hùng mạnh của Hoa Kỳ trong tháng 9 năm 2008.

Hương và những khách hàng khác đang học cách chấp nhận rằng giá bất động sản có thể dịch chuyển theo cả hai hướng ngay cả ở Việt Nam.

“Chúng tôi có thể bán căn hộ ngay lập tức kiếm lãi 200 triệu đồng (9600 USD) nhưng chúng tôi hy vọng sẽ có được lãi 500 triệu đồng (24,000 USD) nếu chờ đợi thêm vài tháng,” Hương cho biết. Cô ta đang làm việc ở một cơ quan chính phủ tại Hà Nội có liên quan đến lĩnh vực bất động sản.

Trong khi đó, cô ấy phải trả lãi là 7,5 triệu đồng (360 USD) một tháng, một số tiền lớn tại một quốc gia thu nhập trung bình hàng năm là khoảng 1.100 USD. Phần trả góp thứ 2 của khoản vay 500 triệu đồng sắp đáo hạn sớm.

“Tôi không đủ khả năng trả nợ nữa,” cô ta nói.

Đói vốn

Các nhà thầu xây cất cũng đang cảm thấy khó khăn.

Trong chiến dịch chế ngự mức lạm phát cao nhất châu Á, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hay ngân hàng trung ương, đã tăng mạnh lãi suất trong năm nay và ra lệnh các ngân hàng thương mại khống chế mức cho vay trong lĩnh vực “phi sản xuất” , trong đó có bất động sản, xuống mức 16% của tổng dư nợ tín dụng ngân hàng vào cuối năm.

Đó là phương pháp hiệu quả để ngăn chặn dòng tiền mặt nuôi sống nhiều nhà thầu xây cất bất động sản, khiến cho cầu giảm và tiền ứng trước từ khách hàng cạn kiệt.

Khi thị trường bùng nổ, nguồn vốn của các nhà thầu xây cất có khoảng 20% ​​tiền mặt từ ngân hàng cấp cho và 80% từ các khoản tiền ứng trước. Nhưng  tỷ lệ đó đã thay đổi vào năm 2010, ông Nguyễn Xuân Thành, một nhà nghiên cứu tại Trường Harvard Kennedy School of Government và người đứng đầu chương trình chính sách công tại Trường Fulbright cho biết.

“Về cơ bản các nhà thầu xây cất không thể bán”, ông nói.

Hoàng Anh Gia Lai, hay HAGL, một trong những tập đoàn đa ngành lớn nhất của Việt Nam, gắn chặt phần lớn vào lĩnh vực phát triển bất động sản, là một ví dụ.

Sau khi trở thành công ty Việt Nam đầu tiên niêm yết vào Tháng Ba trên sàn chứng khoán London, nó thông báo lợi nhuận trước thuế và lãi vay âm trong quý II năm nay sau vài quý liên tiếp không khả quan.

Công ty này, với tiềm lực mạnh mẽ về căn hộ trung cấp tại thủ đô thương mại nhộn nhịp của thành phố Hồ Chí Minh, đã bị ” giáng một cú mạnh” bởi suy thoái bất động sản và bị trì hoãn ít nhất ba dự án theo như Công ty môi giới chứng khoán Sài Gòn (SSI) cho biết trong một báo cáo.

HAGL bây giờ đã quyết định chuyển hướng ra khỏi sự phụ thuộc vào bất động sản. Trong năm 2010, 90% thu nhập của nó có nguồn gốc từ lĩnh vực bất động sản. Đến năm 2014 sẽ là 20%, ông Chủ tịch Đức cho biết.

“Sẽ không bao giờ có lại thời kỳ vàng son cho bất động sản như năm 2007,” ông nói, khi biên lợi nhuận “khủng khiếp” lên tới 200-300%.

Peter Ryder, Giám đốc điều hành của Indochina Capital, quản lý 3 quỹ-đóng tư nhân đầu tư bất động sản với hơn 2 tỷ USD của các dự án được quản lý và phát triển tại Việt Nam, cho biết đang bắt đầu xuất hiện hiện tượng đói vốn đầu tư.

“Hoặc là họ không thể có thêm tiền từ các ngân hàng vì các ngân hàng đã được thông báo” không cấp thêm tiền cho bất động sản “, hoặc họ không thể trả lãi cho các khoản vay mới, để mặc các khoản vay cũ tại đó,” , ông nói.

Quá đáng

Trong bốn năm qua, tăng trưởng tín dụng trung bình đạt 35% mỗi năm. Nó cộng thêm gần 100 tỷ USD tín dụng mới, gần bằng sản lượng kinh tế của đất nước này trong năm 2010. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nó đồng thời làm phình tỷ lệ tín dụng Việt Nam lên tới 125% GDP. Các khoản nợ xấu cũng tăng lên.

Vào cuối năm ngoái, ngân hàng trung ương báo cáo tỷ lệ nợ xấu là 2,16%. Hai tuần trước, NHNN cho biết tỷ lệ nợ xấu vào tháng Bảy là 3,04% – tăng hơn 40%. Thống đốc Ngân hàng trung ương Nguyễn Văn Bình cho biết tỷ lệ nợ xấu có thể đạt tới mức 5% vào cuối năm nay.

Ngày 1 tháng 9, cơ quan xếp hạng tín dụng Moody’s Investors Service tin rằng chất lượng tài sản ngân hàng Việt Nam “tồi tệ hơn nhiều” so với báo cáo chính thức.

Các nhà phân tích đều đồng tình và một số người cho rằng con số thực có thể cao hơn.
Bất động sản chỉ là một phần của bức tranh nợ xấu. Những doanh nghiệp quốc doanh ngập nợ, kém hiệu qủa như tập đoàn đóng tàu Vinashin cận kề phá sản tiếp tục chồng chất thêm mức thua lỗ khủng.

Tuy nhiên, sau khi bùng nổ đầu cơ (bất động sản), nó đã đẩy giá cả cao đến mức mà HAGL của ông Đức gọi là “quá đáng”. Việc này khiến các doanh nghiệp nhà nước mở ra những cánh tay nối dài sang bất động sản, các khoản vay thế chấp bất động sản mà có thể nói là độc hại nhất.

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia có trách nhiệm tư vấn cho chính phủ, đã được trích dẫn trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn vào ngày 19 tháng 9 nói rằng khoảng một nửa các khoản nợ xấu không thể thu hồi được, với các khoản vay bất động sản chiếm số lượng lớn.

Nguy cơ cao nhất là một số ít các ngân hàng nhỏ. Các ngân hàng lớn nhất cho vay bất động sản tương đối thấp, trung bình khoảng 10%.

Nhiều ngân hàng nhỏ cho vay bất động sản lên tới 30-40%, và một số thậm chí lên tới 50%. Một tờ báo nhà nước trích lời ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nói trong tuần này.

Chưa có ngân hàng nào gặp khó khăn nhưng các nhà thầu bất động sản cũng như các nhà đầu tư lớn đang được theo dõi chặt chẽ. Họ đã chuyển một lượng lớn vốn vào các dự án bất động sản dưới các vỏ bọc khác nhau.

Phương tiện truyền thông nhà nước nói rằng một số ngân hàng lớn có tỷ lệ nợ xấu tổng thể trên mức trung bình. Tại ngân hàng lớn nhất,ví dụ Agribank, nợ xấu là 6,67%. Ông Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo cho biết chủ yếu nợ xấu nằm trong khoản cho vay bất động sản, VnExpress.vn đưa tin.

Nhà Bài lá

Tuy nhiên, hai vấn đề thực chất chỉ là mối quan tâm về vấn đề: sự thiếu minh bạch trầm trọng và bí mật mà ai cũng biết rằng nhiều ngân hàng sẽ làm bất cứ điều gì để lấp liếm tỷ lệ nợ xấu của họ.

Nếu các ngân hàng không đáp ứng được mục tiêu hạ tỷ lệ dư nợ tín dụng trong lĩnh vực phi sản xuất xuống 16% của ngân hàng trung ương, họ sẽ phải tăng gấp đôi dự trữ bắt buộc và bị cấm không được mở chi nhánh mới.

Biết họ không thể đạt được các mục tiêu một cách hợp pháp, các nhà phân tích nghi ngờ một số ngân hàng đang khôn khéo đảo nợ hoặc tái phân loại ẩn số nợ bất động sản Việt Nam.

Một nhân viên môi giới bất động sản có kinh nghiệm của Việt Nam nói: “Chúng tôi nghĩ các ngân hàng sợ đến chết khi đi đòi nợ xấu bởi vì họ phải báo cáo việc đó và họ không có tiền để tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc”. Người này từ chối được nêu danh tính vì tính chất nhạy cảm của vấn đề.

“Không ai muốn nói sự thật bởi vì sau đó toàn bộ nhà bài lá này sẽ sụp đổ.”

Năm ngoái, mánh khóe mới nổi lên là ngụy trang các khoản vay bất động sản bằng trái phiếu doanh nghiệp, Thành cho biết.

“Mánh khóe này được rất nhiều nhà thầu bất động sản lớn sử dụng”, ông ta nói thêm rằng không thể biết được mức độ gian lận bởi vì tất cả được thực hiện như trái phiếu phát hành riêng lẻ của doanh nghiệp.

Vào cuối tháng Tám, một báo cáo của Credit Suisse vạch ra rủi ro trong lĩnh vực doanh nghiệp và ngân hàng.  Trong kết luận của báo cáo có lưu ý cho các nhà đầu tư tiềm năng:

“Chúng tôi cho rằng các nhà đầu tư nên tránh các dịch vụ tài chính và bất động sản bởi vì các lĩnh vực này đang là trung tâm điểm của các món mợ đang bị nguy cấp nhất hiện nay tại Việt Nam.”

Ngân hàng trung ương đang tìm giải pháp. Nó có kế hoạch để giúp 10 ngân hàng nhỏ có các vấn đề thanh khoản dù không công khai tên các ngân hàng đó. Và NHNN đang công khai thảo luận về các phương án sáp nhập có thể.

“Điều nguy hiểm là nếu chính phủ không thể buộc các ngân hàng tái cơ cấu, hoặc ít nhất đòi lại càng nhiều càng tốt nợ xấu của họ, thì nó sẽ trở thành một vấn đề. Sẽ có những tác động tài khóa tới chính phủ bởi về mặt chính trị ,họ không cho phép các ngân hàng phá sản “, Thành nói.

“Họ vẫn có thể khắc phục vấn đề bằng cách nào đó, nhưng họ phải làm điều đó ngay.”

(Biên tập bởi Jason Szep)

Thứ Bảy, tháng 8 20, 2011

[Thông cáo báo chí] S&P đánh sụt hạng tín dụng đồng nội tệ của Việt Nam xuống mức 'BB-'

Lời nói đầu: Tin mới nhất cho biết là S&P, cơ quan xếp hạng tín dụng của Mỹ đã hạ mức xếp hạng tín dụng đồng nội tệ Việt Nam xuống bậc BB-. Tin tức này khi được loan báo trên các báo điện tử về tài chính kinh tế ở Việt Nam đều lờ đi cảnh báo quan trọng nhất của S&P trong thông cáo báo chí về việc đánh sụt hạng tín dụng Việt Nam rằng Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế và tài chính trong thời gian gần. Đồng thời, triển vọng tiêu cực của S&P trong xếp hạng tín dụng Việt Nam cũng có nghĩa là Việt Nam có nguy cơ rất lớn sẽ bị đánh sụt hạng tín dụng tiếp. Tín hiệu cảnh báo về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đã được phát ra từ S&P. Đó cũng là điều mà chúng tôi liên tục cảnh báo các bạn Việt Nam trong mấy tháng gần đây.

(Tuyên bố sau đây đã được phát hành bởi cơ quan xếp hạng)

- Standard & Poor's gần đây đã sửa đổi phương pháp luận và giả định của hãng trong cách xếp hạng các chính phủ.

Do đó, chúng tôi đánh sụt hạng tín dụng nội tệ dài hạn Việt Nam xuống 'BB-' từ mức 'BB' hiện nay. Đồng thời, chúng tôi cũng hạ mức xếp hạng dài hạn của khu vực ASEAN xuống mức 'axBB' từ 'axBB +' hiện nay.

- Chúng tôi cũng xác nhận xếp hạng tín dụng ngoại tệ của Việt Nam tại mức 'BB-/ B', xếp hạng phát hành tín dụng ngắn hạn ở mức 'B' và xếp hạng tín dụng ngắn hạn của khu vực ASEAN tại mức 'axB'.

- Triển vọng tiêu cực về xếp hạng tín dụng của Việt Nam phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế và tài chính trong thời gian gần.

Hôm nay, Dịch vụ Xếp hạng Standard & Poor's đã hạ mức xếp hạng tín dụng nội tệ dài hạn của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuống 'BB-' từ mức 'BB', và xếp hạng tín dụng dài hạn khu vực ASEAN xuống mức 'axBB' từ mức 'axBB +'.

Đồng thời, Standard & Poor's xác nhận xếp hạng tín dụng ngoại tệ dài hạn của Việt Nam tại mức 'BB-', 'B' cho xếp hạng tín dụng ngoại tệ và nội tệ ngắn hạn, và 'axB' cho xếp hạng tín dụng ngắn hạn của ASEAN. Triển vọng về việc xếp hạng dài hạn là tiêu cực. Standard & Poor's cũng sửa đổi đánh giá chuyển nhượng và chuyển đổi cho Việt Nam xuống mức 'BB-' từ  mức 'BB' và xác nhận kết quả xếp hạng phục hồi tại mức '3'.

Ông Kim Eng Tan, chuyên gia phân tích tín dụng thuộc S&P, nói: ‘Chúng tôi hạ xếp hạng tín dụng nội tệ Việt Nam sau khi S&P sửa đổi lại phương pháp luận và giả định của hãng trong cách xếp hạng.”. Standard & Poor's không điều chỉnh xếp hạng tín dụng ngoại tệ dài hạn bởi vì nó không bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn xếp hạng mới cập nhật và nguyên tắc cơ bản về xếp hạng tín dụng quốc gia không thay đổi.

Ông Tan cho biết: "Theo phương pháp sửa đổi, chúng tôi thu hẹp khoảng cách còn tồn tại giữa xếp hạng tín dụng nội tệ và ngoại tệ của các quốc gia. Vì chúng tôi tin rằng các chính phủ có thể có ít động cơ hơn trong việc phân biệt giữa nợ nội tệ và ngoại tệ trong trường hợp tái cấu trúc nợ, do thực tế toàn cầu hóa của các thị trường đang tăng mạnh".

Để phù hợp với tiêu chí của chúng tôi trong xếp hạng các quốc gia, xếp hạng tín dụng nội tệ của Việt Nam bây giờ ngang bằng xếp hạng tín dụng ngoại tệ vì chế độ neo tỷ giá hối đoái của Việt Nam đồng làm hạn chế tính độc lập của chính sách tiền tệ và thị trường tài chính và vốn nội địa đang ở giai đoạn phát triển ban đầu.

Xếp hạng tín dụng quốc gia của Việt Nam là 'BB-' phản ánh một nền kinh tế có thu nhập thấp, hệ thống tài chính và cơ cấu chính sách đang phát triển. Triển vọng tăng trưởng kinh tế lành mạnh được củng cố bởi những nỗ lực liên tục của chính phủ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng một phần bù đắp những điểm yếu đó.

Các biến động kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây, cùng với tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ đã làm suy yếu khả năng chống đỡ của hệ thống ngân hàng với cú sốc tài chính hoặc kinh tế mới. Dòng chảy vốn nội địa ra khỏi Việt Nam đã làm giảm thanh khoản nội địa và khiến chi phí lãi vay nội địa tăng.

Ông Tan cho biết: "Phần lớn lượng tín dụng nội địa - ước tính bằng 118% GDP vào cuối năm 2011 - có lãi suất danh nghĩa trên 15%/năm". "Một môi trường thiểu phát có thể giảm khả năng trả nợ đối với những khoản vay trên mà chúng tôi hy vọng việc định giá lãi suất lại chậm hơn, và do đó có thể làm tổn thương chất lượng tài sản có trong hệ thống ngân hàng. Cuối cùng, điều này có thể dẫn tới yêu cầu tái cấp vốn của chính phủ cho chính các tổ chức khu vực tài chính công."

Nếu bỏ qua những điểm yếu trên, sự cởi mở với dòng vốn dầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã giúp cải thiện triển vọng kinh tế của Việt Nam. 4 năm qua, FDI liên tục ở mức khoảng 8% GDP. Những dự án có vốn đầu tư nước ngoài này sẽ giúp đảm bảo xu thế tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Việt Nam ở mức khoảng 5% - 6%. Standard & Poor's ước tính tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2011 ở mức 5%.

Triển vọng tiêu cực về xếp hạng tín dụng của Việt Nam phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ bất ổn kinh tế và tài chính trong thời gian gần. Chúng tôi có thể hạ thấp xếp hạng tín dụng quốc gia nếu có sự gia tăng áp lực cán cân thanh toán hoặc có những rủi ro tài chính bất ngờ xuất hiện. Xếp hạng tín dụng có thể ổn định ở mức hiện nay nếu chúng tôi đánh giá rằng rủi ro đối với độ ổn định của khu vực tài chính đã giảm. Điều này có thể phản ánh việc thực thi thành công các chính sách nâng niềm tin vào đồng nội tệ, thu hẹp khu vực tư nhân và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhà nước.

TIÊU CHUẨN VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

- Phương pháp luận và giả định về xếp hạng tín dụng chính phủ, 30 Tháng Sáu 2011

Nguồn: Reuters, TEXT-S&P lowers Vietnam LC rating to 'BB-', 19/08/2011, URL: http://uk.reuters.com/article/2011/08/19/sp-idUSWLA392220110819
Dịch bởi Dự đoán kinh tế Việt Nam, 19 Tháng Tám 2011

Thứ Ba, tháng 7 05, 2011

Nhu cầu năng lượng điện giúp giảm căng thẳng trên biển Đông ra sao?

Với trên 90% gói thầu EPC ở nhiều nhóm ngành, lĩnh vực khác nhau rơi vào tay Trung Quốc (Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 16/6/2011), thì việc ngành năng lượng điện tại Việt Nam ngày một phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không có gì làm lạ.

Bài viết của Ben Bland đăng trên tạp chí Financial Times, dudoankinhte chuyển ngữ.

----

With the long-running maritime dispute between China and Vietnam threatening to boil over once again, Nguyen Tan Dung, Vietnam’s prime minister, warned recently that his country would “resolutely fight activities that infringe our sovereignty”.

However, Vietnam’s reaction to perceived Chinese aggression in the South China Sea is likely to be tempered by the fact that Beijing is increasingly driving Vietnam’s economy. As Vietnam faces another year of debilitating power cuts and the government battles against severe financial headwinds, China is stepping into the breach.

Cùng với sự tranh chấp lãnh hải từ trước đến nay giữa Việt Nam và Trung Quốc nay đang một lần nữa có nguy cơ bùng phát trở lại, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gần đây ra lời cảnh cáo rằng đất nước (Việt Nam) sẽ “kiên quyết chiến đấu chống lại các hành vi vi phạm chủ quyền.”

Tuy nhiên, phản ứng thật sự của Việt Nam trước sự gây hấn của Trung Quốc ở vùng biển Đông sẽ có phần “khiêm tốn” hơn trước sự thật rằng Bắc Kinh đang ngày một kiểm soát nền kinh tế Việt Nam. Tình trạng cắt điện triền miên do cung ứng thiếu hụt, khan hiếm và việc Chính phủ đang phải vật lộn với khủng hoảng tài chính trầm trọng đã tạo cơ hội cho Trung Quốc thâm nhập vào Việt Nam.

With Vietnam unable to produce enough power to meet demand, which is increasing by about 15 per cent a year, its northern provinces import electricity from China – 6 per cent of the country’s total supply according to Electricity of Vietnam, the state power monopoly.

Far more important is China’s role in building the infrastructure needed to meet Vietnam’s future energy needs. Hanoi has kept the price of electricity much lower than in neighbouring Cambodia, China and Laos, making it very difficult for most foreign investors to develop profitable power projects.

Việt Nam hiện không có khả năng sản xuất đủ điện năng theo nhu cầu, vốn tăng khoảng 15% mỗi năm. Nhiều thị trấn phía Bắc phải nhập khẩu điện từ Trung Quốc, chiếm 6% tổng nguồn cung điện của quốc gia, theo EVN, một Tổng Công ty Nhà nước độc quyền về điện.

Nghiêm trọng hơn thế nữa là vai trò của Trung Quốc đối với các công trình cơ sở hạ tầng điện lực Việt Nam phục vụ nhu cầu điện trong tương lai. Hà Nội đang kiềm giữ giá điện ở mức rất thấp, thấp hơn nhiều nước láng giềng như Cambodia, Trung Quốc và Lào, tạo khó khăn cho những nhà đầu tư nước ngoài có ý định xây dựng các dự án điện có hiệu quả, đem lại lợi nhuận.

However, with deep pockets, Chinese policy banks such as China Development Bank and China Export-Import Bank have offered billions of dollars of concessional loans for new power stations in Vietnam.

In return, large Chinese energy groups such as Dongfang Electric, Harbin Power Equipment and Shanghai Electric have been awarded lucrative contracts to provide equipment and build power stations across Vietnam.

Tuy nhiên, với chiếc túi không đáy của mình, các ngân hàng chính sách Trung Quốc như Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (China Development Bank), và Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Trung Quốc (China Export-Import Bank) đã mời chào hàng tỷ USD gói vay khuyến khích (concessional loan) dành cho các nhà máy điện tại Việt Nam.

Ngược lại, các Tập đoàn Năng lượng lớn của Trung Quốc như Dongfang Electric, Harbin Power Equipment và Shanghai Electric đã trúng những gói thầu có giá trị lợi nhuận cao để cung cấp thiết bị cho những nhà máy điện.

The lending by CDB and China Eximbank is part of a wider global push by Beijing to reduce its dependency on western export markets and extend its commercial reach into developing countries.

US, European, Japanese and South Korean energy companies have long been interested in Vietnam’s underdeveloped power sector. However, they are increasingly being trumped by Beijing’s unparalleled ability to throw cash behind its emerging industrial titans.

One executive from a large Japanese power group said it was very difficult to compete with Chinese companies given their lower pricing and ready access to cheap state credit.

Yet, with a touch of irony, China is now seeking to emulate Japanese policy from 20 years ago, when it brought technology and financing for power projects to Indonesia, said Mark Hutchinson, Singapore-based senior director at IHS CERA, an energy consultancy,

Các gói vay từ CDB và Eximbank Trung Quốc là một phần trong chiến lượng toàn diện của Bắc Kinh nhằm giảm sự phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu sang phương Tây, và mở rộng phạm vi thương mại tới các nước đang phát triển.

Những công ty năng lượng Mĩ, EU, Nhật và Hàn Quốc từ lâu đã “khao khát” tiềm lực phát triển của hệ thống lưới điện Việt Nam. Tuy nhiên, họ không thể cạnh tranh lại với khả năng chi tiền “vô biên” nhờ vào nền công nghiệp xuất khẩu hùng mạnh của Trung Quốc.

Một thành viên cấp cao một tập đoàn điện lực Nhật Bản thừa nhận sự khó khăn trong việc cạnh tranh với các công ty Trung Quốc vốn mời chào giá rất thấp và sự ưu đãi tiếp cận nguồn vốn của Chính phủ Trung Quốc.

Khá là mỉa mai thay, Trung Quốc hiện đang cố gắng bắt chước chính sách của Nhật Bản cách đây hơn 20 năm trước khi Nhật mang tiềm lực công nghệ-kỹ thuật và tài chính cho các dự án năng lượng tại Indonesia, Mark Hutchinson, một chuyên gia cố vấn năng lượng đứng đầu tại IHS CERA ở Singapore, nhận xét.

Despite the territorial dispute and a long history of confrontation, economic relations between Vietnam and China are deep, if uneven. Vietnam ran a trade deficit of $11.6bn with China last year, exporting low value commodities such as crude oil, rubber and seafood, while importing processed goods such as machinery, chemicals and electronics.
Analysts at Citigroup, the investment bank, argued in a recent note to clients that strong China-Vietnam economic interests could help prevent the escalation of tensions around the South China Sea.

However, some Vietnamese observers fear that their country’s reliance on their northern neighbour will leave them dangerously exposed if relations deteriorate.

“If you are too dependent on one partner, they can use all kinds of measures to cause many problems for our economy,” said Nguyen Quang A, a former gov­ernment adviser who took part in recent, rare protests against China’s perceived maritime bullying tactics.

Bất chấp các căng thẳng và một bề dày lịch sử đối đầu nhau, mối tương quan kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện rất “thắm thiết”, chênh lệch lớn. Thâm thủng cán cân thương mại giữa Việt Nam đối với Trung Quốc là 11.6 tỷ USD vào năm ngoái. Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng thô, ít giá trị như cao su, hải sản, dầu trong khi đó lại nhập những mặt hàng kỹ nghệ như máy móc, hóa chất và đồ điện tử.. từ Trung Quốc.

Những nhà phân tích tại Citigroup, nhận định trong một báo cáo gởi các khách hàng, rằng mối tương quan lợi ích sâu rộng giữa nền kinh tế Việt Nam và Trung Quốc sẽ giảm bớt leo thang, căng thẳng về vấn đề biển Đông.

Bất kể vậy, nhiều nhà quan sát trong nước lo sợ sự dựa dẫm vào người láng giềng phương Bắc này sẽ dẫn đến mối nguy hại to lớn một khi quan hệ Việt-Trung bị tổn thương.

“Nếu quá phụ thuộc vào một đối tác, họ có thể sử dụng mọi khả năng để gây nhiều rắc rối cho nền kinh tế của chúng ta,” Nguyễn Quang A, nguyên cố vấn Chính phủ, người đã tham gia cuộc “tụ tập tự phát” hiếm hoi gần đây nhằm lên án hành động, thủ đoạn bạo ngược lãnh hải của Trung Quốc.

Though Hanoi is rolling out the red carpet for Chinese energy companies at present, if push comes to shove, Vietnam’s pragmatic leaders will put national sovereignty first, argued Ernest Bower, director of the Southeast Asia programme at the Center for Strategic and International Studies in Washington.

“I suspect that if the Vietnamese perceive that the Chinese have too much market share, policies on power will start to move towards world class standards so international companies can finance and build power plants competitively in Vietnam,” he said.

Cho dù Hà Nội vẫn đang trải thảm đỏ đối với các công ty năng lượng Trung Quốc ở thời điểm hiện tại, nhưng trong tình thế bất khả kháng, các nhà lãnh đạo Việt Nam thực dụng sẽ đặt vấn đề chủ quyền lên trọng tâm, Ernest Bowder, giám đốc chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến thuật và Quốc tế (Center for Strategic and International Studies) tại Washington, bình luận.

“Tôi nghi ngờ rằng một khi Việt Nam cảm thấy Trung Quốc đang chiếm lĩnh quá nhiều thị phần, các chính sách sẽ được thông qua nhằm nâng cấp các tiêu chuẩn cho phù hợp với quốc tế để tạo điều kiện cho những công ty năng lượng và tài chính nước ngoài có thể xây dựng các nhà máy điện cạnh tranh tại Việt Nam.”, ông nhận xét.

----

Ben Bland"Electricity demands could limit Beijing-Hanoi rift", Financial Times, July 3rd 2011, http://www.ft.com/intl/cms/s/0/c8678892-a587-11e0-83b2-00144feabdc0.html#axzz1R55cUue5
Thời báo Kinh tế Sài Gòn"Khi hầu hết các gói thầu EPC vào tay Trung Quốc: Rủi ro khó lường", 16/6/2011, http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/55436/Khi-hau-het-cac-goi-thau-EPC-vao-tay-Trung-Quoc-Rui-ro-kho-luong.html

Thứ Tư, tháng 6 01, 2011

Chủ nợ Vinashin dò dẫm bơi khi con thuyền nay đã vỡ (nợ).

Bài viết đăng trên tạp chí Financial Times, facebook.com/dudoankinhte chuyển ngữ.
For foreign lenders to Vietnam Shipbuilding Industry Group (Vinashin), the road to recoveries will likely require pressuring the government to intervene, Debtwire reports.

Crippled by mismanagement and alleged corruption, and burdened by more than USD 3bn in debt, the 100% state-owned company is unlikely to generate enough cash to service its unsecured USD 600m Credit Suisse-arranged loan any time in the foreseeable future. But to successfully exert political pressure, lenders first need to understand one thing: the government of Vietnam doesn’t technically owe them anything. Even before Vinashin defaulted on the loan by missing a USD 60m principal payment last December, some creditors noisily demanded that the government step in and bridge the shortfall. A “comfort letter” provided by the government when the loan was issued in 2007 constitutes an implicit guarantee, these creditors claim, and the cheap Libor+ 150bps loan was widely considered at the time as a quasi-sovereign debt. But although the state has taken an active role in restructuring Vinashin’s operations, it has washed its hands of any responsibility for the company’s debt, and direct talks between the company and lenders have been moving at a glacial pace. A “comfort letter” is not a guarantee, lawyers with experience in the country say, and the fact that creditors loaned money too cheaply doesn’t mean the government has to bail them out.

Đối với chủ nợ nước ngoài của Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Vinashin, hành trình để tìm đến khoản tiền trả nợ dường như rất cần sự gia tăng áp lực lên chính phủ để can thiệp, Debtwire cho hay.

Suy sụp bởi khả năng quản lý yếu kém cũng như các cáo buộc tham nhũng, và một món nợ hơn 3 tỷ USD nặng trĩu trên lưng, tập đoàn 100% vốn nhà nước này khó lòng nào mà tìm ra đủ số tiền cần thiết để trả nợ cho khoản vay không thế chấp do Credit Suisse dàn xếp trị giá hơn 600 triệu USD trong tương lai gần. Nhưng để có thể gây áp lực về mặt chính trị, những chủ nợ cần phải hiểu một điều rằng: về mặt lý thuyết, chính phủ Việt Nam không hề nợ họ một đồng nào cả. Thậm chí trước khi Vinashin vỡ nợ do không thể thanh toán 60 triệu USD đợt đầu vào tháng 12 năm ngoái, nhiều chủ nợ đã lớn tiếng yêu cầu chính phủ phải can thiệp và hỗ trợ tình trạng thâm hụt của Vinashin. Một “lá thư động viên” đến từ chính phủ khi khoản nợ được hạch toán vào năm 2007 bao gồm sự đảm bảo tuyệt đối (--từ chính phủ), nhiều chủ nợ khẳng định, cùng gói vay tỷ giá ưu đãi (--nguyên văn Libor+150) có giá trị tương đương như trái phiếu vào thời điểm lúc bấy giờ. Tuy nhiên, mặc dù chủ động giữ vai trò chính trong việc cơ cấu lại hoạt động của tập đoàn Vinashin, nhà nước Việt Nam đã phủ sạch mọi trách nhiệm liên quan tới món nợ của Vinashin, và những buổi trao đổi trực tiếp giữa tập đoàn và chủ nợ càng lúc càng thưa thớt, lạnh nhạt. “Lá thư động viên” không phải là một sự cam kết, một luật sư nhiều kinh nghiệm tại Việt Nam cho hay, cho dù sự thật chủ nợ cho vay tiền giá rẻ không đồng nghĩa với việc chính phủ phải cứu giúp khi Vinashin vỡ nợ.
A steering committee of lenders formed last fall initially comprised Credit Suisse, Depfa Bank, Elliott Advisors, Maybank, and Standard Chartered, sources said. Elliott, an activist hedge fund, has a history of exerting pressure on governments in situations with quasi-sovereign credits, sometimes though media exposure, sources said. Standard Chartered resigned from the steering committee in April.

If the government doesn’t step in, creditors will likely face a protracted restructuring process in which recoveries hinge on the hope that Vinashin’s business will someday prosper. “The normalisation of commercial operations by Vinashin is going to be a real challenge,” said Matthew Flynn, managing director of shipbuilding consultancy Worldyards. Adding to Vinashin’s problems, overcapacity has been squeezing margins industry-wide and is likely to persist for several years, he said. Many economists say the government’s push to create a large shipbuilding industry was misguided from the start and driven mainly by politics, one person familiar with the business said.

So how do creditors, having foolishly lent Vinashin money at sovereign-debt prices, get repaid? “Harass the Vietnamese government,” said one lawyer with experience representing foreign investors in Vietnam. “The government is always telling everyone, ‘we’re open for business’. Even the Prime Minister goes on the roadshows with state owned enterprises (SOEs) saying the country is a friendly environment for investors.”

Nhóm thương thuyết của chủ nợ Vinashin được hình thành mùa thu năm ngoái bao gồm Credit Suisse, Depfa Bank, Elliott Advisors, Maybank và Standard Charted, một nguồn tin tiết lộ. Trong số đó thì Elliot, một quỹ đầu tư mạo hiểm xã hội, từng có chiều dài lịch sử trong việc gây áp lực lên chính phủ trong những tình huống có liên quan đến nợ tương đương trái phiếu, đôi lúc bằng cách thức tuyên truyền qua truyền thông, nguồn tin tiếp tục cho hay. Standard Chartered đã rút lui khỏi nhóm thương thuyết vào tháng 4.

Nếu chính phủ vẫn cương quyết không can thiệp, chủ nợ gần như phải đối diện với quá trình tái cơ cấu tốn nhiều thời gian mặc dù khả năng trả nợ vẫn phải dựa vào niềm tin, hi vọng rằng một ngày nào đó hoạt động kinh doanh của Vinashin sẽ phát triển rực rỡ. “Tiêu chuẩn hóa trong các hoạt động kinh doanh của Vinashin là một thử thách thật sự”, Matthew Flynn, giám đốc điều hành công ty tư vấn ngành công nghiệp đóng tàu Worldyards nhận xét. Thêm vào đó, khó khăn của Vinashin còn đến từ năng lực vượt trội của toàn ngành đóng tàu trên thế giới hiện đã thừa sức “vắt sạch” tất cả các đơn hàng, và tình trạng cung hơn cầu sẽ còn tiếp diễn trong nhiều năm tới, Matthew Flynn cho biết. Nhiều nhà kinh tế học phân tích rằng quyết tâm của chính phủ để tạo ra một tập đoàn đóng tàu tầm cỡ đã sai lầm ngay từ lúc bắt đầu và chủ yếu được lèo lái bằng yếu tố chính trị, một người thân cận với Vinashin nói.

Vậy thì, làm thế nào để các chủ nợ, vốn cả tin đã cho Vinashin vay tiền với mức giá trái phiếu chính phủ (--tức lãi suất), lấy lại tiền? “Liên tục nhắc nhở chính phủ Việt Nam”, một luật sư nhiều năm kinh nghiệm làm đại diện cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói. “Chính phủ luôn luôn đề cập trước công chúng ‘nhà nước tạo mọi điều kiện cho hoạt động kinh doanh’. Thậm chí thủ tướng còn xuất hiện trong những buổi tham luận của các tập đoàn nhà nước nói rằng Việt Nam là đất nước có môi trường thân thiện đối với nhà đầu tư”.
The key will be finding the right methods of harassment, three lawyers said,noting that there is no precedent in Vietnam for such a situation. Simply demanding repayment and publicizing the situation have yielded little beyond resentment. Some creditors have used the media to air their views that Vinashin’s default will scare off foreign investment in the state-controlled economy. But recent deals suggest that foreign capital is still available to Vietnamese companies -- if the deals are structured appropriately. Vietnam National Oil and Gas Group (PetroVietnam) in April obtained a USD 904m, export credit agency-backed loan from Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, China Development Bank, Credit Suisse, HSBC and Intesa SanPaolo. Non-state owned conglomerate Hoang Anh Gia Lai closed a USD 90m high-yield bond this month.

Yet the creditors have a valid case. Vinashin was a long-running pet project of Prime Minister Nguyen Tan Dung, who has publicly admitted that a lack of oversight allowed mismanagement and alleged fraud to bring the 100% state-owned company to the brink of collapse. In light of this, the government’s claim that the loan is a purely commercial affair is somewhat disingenuous, the creditors said. Lenders have also objected to the government’s transfer of some Vinashin subsidiaries to other SOEs, claiming that this violates the terms of the loan agreement, especially since some of the subsidiaries are guarantors.

Mấu chốt của vấn đề là phải tìm ra đúng phương pháp để lien tục nhắc nhở, làm phiền, ba vị luật sư nói, nhấn mạnh thêm rằng đây là sự kiện chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam. Nếu chỉ biết kêu gọi trả nợ và công khai hóa tình trạng của Vinashin thì đã dấy lên vài tác dụng ngược. Nhiều chủ nợ khác công khai trên truyền thông cái nhìn của họ về việc vỡ nợ của Vinashin nhằm “đuổi khéo” đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế nhà nước tập trung như Việt Nam. Tuy nhiên gần đây nhiều thỏa thuận được ký kết cho thấy dòng vốn từ bên ngoài vẫn rộng cửa với các công ty Việt Nam, nếu những quy định được soạn thảo kĩ lưỡng. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam) trong tháng 4 đã đạt được khoản tín dụng trị giá 904 triệu USD được bảo trợ bởi công ty con (--công ty tài chính dầu khí) từ năm ngân hàng nước ngoài, gồm Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, China Development Bank, Credit Suisse, HSBC và Intesa SanPaolo. Tập đoàn không trực thuộc nhà nước như Hoàng Anh Gia Lai kết phúc phiên trái phiếu lãi suất cao với 90 triệu USD trong tháng này.

Dẫu sao đi nữa, chủ nợ của Vinashin có lí do chính đáng cho hành động của họ. Vinashin từng là một dự án “cục cưng” của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong thời gian dài; ông cũng đã công khai thừa nhận sự giám sát lỏng lẻo đã để cho trình độ quản lý kém và các cáo buộc gian lận đẩy tập đoàn 100% vốn nhà nước này đi đến bờ vực sụp đổ. Với cách nhìn nhận như vậy, việc chính phủ tuyên bố rằng khoản nợ từ Vinashin đơn thuần là vấn đề kinh doanh có chút gì đó không đúng sự thật, nhiều chủ nợ bình luận. Họ phản đối chính phủ tái cơ cấu các đơn vị thành viên của Vinashin sang những tập đoàn nhà nước khác, nhận xét rằng hành động này đã vi phạm cam kết trong hợp đồng cho vay, đặc biệt là khi chính các công ty thành viên trên lại chính là “vật bảo chứng” của khoản vay.
Rather than simply demand repayment, lenders should capitalise on options afforded by the loan agreement to pursue their claims, two of the lawyers said. The loan is governed by English law, and while an overseas judgment would be difficult to enforce in Vietnam where the company’s assets are located, creditors could interfere with or even seize overseas monetary transfers and letters of credit, one of the lawyers said. “They could basically make it impossible for Vinashin to do business abroad,” he said.

Lenders could also take the dispute to the London Court of International Arbitration, creditors said. Obtaining an arbitration award for the overdue debt would likely be simple, the second lawyer said. Making use of this in Vietnam would be more challenging. While there are cases of foreign arbitration awards being enforced in Vietnam, he said, “it’s usually been against foreign investors.” Seeking arbitration also requires support from two-thirds of creditors – which could be hard to achieve. A vote in March to call the subsidiary guarantees obtained support from only 54% of creditors, and Credit Suisse was among those that opposed the measure.

However, support for more assertive action will likely increase the longer the loan remains in default. Most of the loan is still owned by original lenders, many of which are commercial banks with an interest in staying on good terms with the Vietnamese government. Only about USD 100m of the debt is said to have been sold in the secondary market, one creditor said. But trading could pick up after June, when the next interest and principal payments are due, all the sources said. That’s because the need for further provisioning by creditor banks six months after default will likely increase the incentive to sell, especially if the interest payment is missed. The loan last traded in the 50-60 cent range, according to market sources.

Thay vì luôn tìm cách yêu cầu trả nợ, chủ nợ có thể tận dụng các quy định có sẵn trong bản hợp đồng cho vay để theo đuổi vụ kiện tụng, hai luật sư nhận xét. Gói cho vay có hiệu lực pháp lý đối với luật của Anh quốc, và mặc dù quyết định thi hành án ở nước ngoài khó mà được thực thi tại Việt Nam, nơi đặt tài sản của Vinashin, chủ nợ có thể can thiệp hoặc thậm chí tịch thu các giao dịch chuyển khoản, giấy tờ thanh toán (--LC), một luật sư giải thích. “Họ có thể khiến Vinashin không thể làm ăn tại nước ngoài”, ông nhận định.

Ngoài chủ nợ còn có quyền khai tranh chấp với Trung tâm Hòa giải Quốc tế London, họ cho hay. Giành được quyết định phán xét của tòa án, trọng tài đối với món nợ đáo hạn sẽ rất đơn giản, một luật sư nhận định. Việc áp dụng quyết định của trọng tài tại Việt Nam mới là vấn đề. Trong nhiều trường hợp thì luật pháp được thi hành tại Việt Nam, ông nói tiếp, “thường thì chỉ để chống lại nhà đầu tư nước ngoài”. Tìm đến một giải pháp tranh chấp tại tòa án cần sự đồng thuận của hai phần ba chủ nợ, vốn rất khó thực hiện. Một cuộc bỏ phiếu vào tháng ba nhằm kêu gọi một sự cam kết bổ sung giành được khoảng 54% phiếu ủng hộ từ các nhà cho vay, và Credit Suisse là một ví dụ nằm ở nhóm phản đối.

Dù gì đi chăng nữa, sự đồng tình với các biện pháp cứng rắn hơn sẽ gia tăng một khi khoản vay tiếp tục tình trạng đáo hạn kéo dài. Hầu hết gói vay vẫn trong tay của chủ nợ ban đầu, rất nhiều trong số đó là ngân hàng thương mại mà tình trạng chi trả lãi suất còn trong kỳ hạn thanh toán từ chính phủ Việt Nam. Chỉ khoảng 100 triệu USD giá trị gói nợ được cho rằng từng được giao dịch ở thị trường thứ cấp, một chủ nợ tiết lộ. Tuy vậy, các giao dịch này có thể tăng mạnh sau tháng 6 tới đây, khi đến kỳ hạn phải trả lãi suất và số tiền vay tối thiểu, nhiều nguồn tin cho biết. Đó là vì những ngân hang cho Vinashin vay cần lấy lại khoản nợ này để phục vụ nhu cầu kinh doanh có khả năng rất lớn sẽ bán lại gói nợ, đặc biệt khi lãi suất không được chi trả đúng hạn. Gói vay được giao dịch lần cuối cùng ở mức từ 50 – 60%, theo một báo cáo thị trường.
Making their demands politically practical will also help creditors’ prospects, all the sources said. For politicians already under fire for their role in Vinashin’s rise and fall, providing an overt bailout could be disastrous, especially since the company has a large amount of secured debt to state-owned banks. If cash for repaying the USD loan does appear, it is therefore more likely to come from selling assets rather than from the state’s coffers, one of the creditors said. Exerting pressure behind the scenes on government officials restructuring Vinashin’s vast web of subsidiaries could therefore be more effective than waging a public fight, the second lawyer said.

Minimizing losses (and for investors that bought the debt at a discount, maximizing profits) on the Vinashin loan will require judiciously harassing the government while avoiding unnecessary provocation. The strategy used by creditors today will not only determine how much they lose or gain, but also set a precedent for future investors in Vietnam’s rapidly expanding but still uncharted capital markets.

Đặt ra những yêu cầu chính trị mang tính khả thi sẽ đồng thời giúp cho triển vọng đòi được nợ của những nhà cho vay, tất cả nguồn tin nhận xét. Với việc nhiều chính khách đang ngồi trên đống lửa bởi trách nhiệm cá nhân cho tình trạng, dù thăng hoa hay suy sụp, của Vinashin, hành động “giải cứu” Vinashin một cách công khai sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn đề, nhất là lúc tập đoàn này đang gánh một lượng lớn nợ có bảo lãnh từ những ngân hàng quốc doanh. Nếu lượng tiền mặt USD để trả nợ không xuất hiện, thì phần lớn khả năng là nguồn tiền đó đến từ việc bán tháo tài sản tập đoàn hơn là từ ngân sách nhà nước, một trong các chủ nợ bình luận. Quyết tâm gây áp lực sau hậu trường lên quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về vấn đề tái cơ cấu mạng lưới công ty con dày đặt của Vinashin xem ra hiệu quả hơn thay vì chú trọng vào tranh giành, đòi nợ một cách công khai, một luật sư khác nói.

Chốt lỗ (và tối lưu lợi nhuận, đối với nhà đầu tư đang mua món nợ này ở mức giá rẻ) với gói vay của Vinashin đòi hỏi một nỗ lực dai dẳn khôn khéo để nhắc nhở chính phủ trong khi tránh các biện pháp đối đầu không cần thiết. Chiến lược hiện nay bởi những nhà cho vay không những quyết định đến khả năng lời, lỗ của họ, mà nó còn có thể tạo ra một tiền lệ để giải quyết các vấn đề tương tự trong tương lai tại thị trường mới nổi nhưng chưa được chú ý trên bản đồ thế giới là Việt Nam.

-----------

Ilya Garger. "Harassing Hanoi: Vinashin creditors paddle in uncharted waters as shipbuilder sinks in default". 5/31/2011. <http://www.ft.com/cms/s/2/a651f90c-8b5d-11e0-8c09-00144feab49a,dwp_uuid=e8477cc4-c820-11db-b0dc-000b5df10621.html#axzz1Nqi9B8Hb>

Thứ Ba, tháng 5 17, 2011

Niềm tin vào Việt Nam sụp đổ cùng với Vinashin.

Đây là bài viết "Faith in Vietnam Falls With Shipmaker" trên tờ Wall Street Journal được facebook.com/dudoankinhte chuyển ngữ.
Frustration over Vietnamese state-run shipbuilder Vinashin's failure to repay loans it defaulted on last year is intensifying among creditors, potentially jeopardizing Vietnam's plans to draw more investment to improve its infrastructure and reduce the bottlenecks that threaten its growth.The problems at Vinashin point to the risks of investing in what, on the face of it, is one of the world's most attractive emerging markets. Vietnam's Communist-run government built up the firm, formally known as Vietnam Shipbuilding Industry Group, to be a major player in the global shipbuilding market to compete with heavyweight manufacturers in China, South Korea and Japan. The entire $750 million proceeds of the country's first-ever sovereign bond were channeled to Vinashin in 2005.

Sự thất vọng của các chủ nợ nước ngoài đối với tập đoàn đóng tàu quốc doanh Vinashin về việc trả nợ khoản vay mà Vinashin đã khất hẹn vào năm ngoái ngày càng gia tăng, đe dọa kế hoạch của chính phủ về việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để nâng cấp cơ sở hạ tầng và làm dịu tình trạng "thắt cổ chai" (--tức thiếu hụt USD) vốn đang đe dọa đến sự phát triển. Cuộc khủng hoảng Vinashin đã cho thấy mức độ rủi ro trong việc đầu tư vào một trong những thị trường hấp dẫn nhất thế giới, dù tên gọi chỉ thể hiện "bề nổi" của nó. Chính phủ cộng sản Việt Nam (--nguyên văn: Vietnam's Communist-run government) đã thiết lập nên tập đoàn này, tên chính thức là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, để làm "đầu tàu" cạnh tranh trong lĩnh vực đóng tàu thế giới với những nhà sản xuất khác tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Toàn bộ 750 triệu USD tiền trái phiếu nước ngoài đầu tiên của Việt Nam đã được rót vào Vinashin trong năm 2005.
In 2007, the government provided a letter of support for the company to enable it to secure an additional $600 million syndicated loan to make the most of a rapid economic boom in the country.

But when Vinashin defaulted on that debt last December in the aftermath of the global economic crash,, the government refused to step in to help pay off the debt, which, in an indication of the boom in emerging markets, had been bought by investors around the world. Dozens of financial institutions invested in the loan, including, among others, Standard Chartered PLC, Credit Suisse AG, Depfa Bank PLC and hedge fund Elliott Advisers Ltd.

Some of Vinashin's lenders now complain that they have been deceived. For many, the government's letter of support was the only reason they felt sufficiently secure to lend to the company. This month, a group comprising just over half the lenders' group sent a letter to Vietnam's government demanding payment on the first $60 million, which was due in December.

Năm 2007, chính phủ ban hành một lá thư nhằm hỗ trợ Vinashin, cho phép tập đoàn này giành được khoản vay 600 triệu USD tổng hợp từ nhiều nhà đầu tư nước ngoài, hi vọng nó sẽ tạo ra sự bùng nổ kinh tế nhanh chóng cho đất nước.

Tuy nhiên khi Vinashin 'vỡ nợ' vào tháng 12 năm ngoái sau vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chính phủ đã dửng dưng không can thiệp để giúp đỡ Vinashin, vốn là một biểu tượng "quả đấm thép" của thị trường mới nổi Việt Nam, trả nợ đúng hẹn cho các chủ nợ. Hàng chục quỹ đầu tư nước ngoài đầu tư vào khoản vay này, trong đó gồm có Standard Chartered, Credit Suisse, Depfa Bank, quỹ mạo hiểm Elliot Advisers, và các cá thể khác.

Một vài chủ nợ của Vinashin than phiền rằng họ có cảm giác như bị lừa đảo. Đối với họ, lá thư hỗ trợ từ chính phủ chính là lý do duy nhất khiến họ cảm thấy an toàn để cho Vinashin vay. Vào tháng 5 này, hơn phân nửa số nhà đầu tư trong nhóm cho vay đã viết một lá thư gởi cho chính phủ Việt Nam yêu cầu trả nợ đối với gói 60 triệu USD lần thứ nhất, vốn đã đáo hạn vào tháng 12 năm ngoái.
"This was always a government-supported loan as far as the lenders are concerned," one person familiar with the situation told The Wall Street Journal. "Going forward, capital won't go to places where it isn't treated fairly."

Officials with Vinashin and the Vietnamese government didn't respond to requests for comment.

The problems with Vinashin highlight the risks investors take when they invest in these small markets. U.S. investors seeking higher yields have poured $5.6 billion into funds that invest in emerging-market bonds so far this year, though that is about half of last year's pace.

The standoff could pose a significant threat to Vietnam's prospects. The government already is struggling to come to grips with worsening inflation. The increase in Vietnam's consumer price index hit 17.51% in April and could reach further peaks in the months to come, complicating the immediate economic outlook for the country.

"Điều chúng tôi luôn luôn quân tâm rằng đây là khoản vay có hỗ trợ từ chính phủ", một người quen thuộc với tình hình cho tờ Wall Street Journal hay. "Ngoài ra, dòng vốn sẽ không bao giờ chảy vào chỗ mà chúng không được sử dụng hợp lý".

Quan chức Vinashin và chính phủ Việt Nam từ chối bình luận về lời nhận xét trên.

Vấn đề Vinashin nhấn mạnh tính rủi ro của nhà đầu tư đối với những thị trường nhỏ. Nhiều nhà đầu tư Mĩ tìm kiếm tỉ suất sinh lợi cao đã rót tổng cộng 5.6 tỷ USD tính tới thời điểm này trong năm vào những quỹ vốn tập trung vào trái phiếu của thị trường mới nổi, gần bằng phân nửa trên tổng số đầu tư hồi năm ngoái.

Cuộc khủng hoảng có thể đe dọa đáng kể đến viễn cảnh đầu tư tại Việt Nam. Hiện nay chính phủ đã phải đánh vật để kiềm hãm con số lạm phát cực kỳ tệ hại. Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới 17.51% trong tháng 4 và có thể chạm mốc cao hơn thế nữa trong những tháng tiếp theo, trực tiếp làm phức tạp thêm triển vọng kinh tế của đất nước.
At the same time, analysts say Vietnam needs to attract more foreign investments to build up overburdened road and rail networks and to build power plants to provide the energy Vietnam needs to keep its economy briskly expanding. Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai said earlier this month at the annual Asian Development Bank meeting in Hanoi that the country hopes to attract as much as $300 billion in investment and aid to fund an infrastructure effort that he said is needed to push the country onto a more robust growth path.

Some economists say the government is trying to get its macroeconomic policy in order to help revive confidence, setting to one side its customary pro-growth policies to better combat the loss of confidence which inflation can bring. Vietnam last week scaled back its growth target for the year to 6.5% from 7% to 7.5% in an effort to focus more tightly on restraining credit growth to better contain inflation.

The authorities also are trying to restore faith in their beleaguered currency, the dong, after a series of devaluations wiped off a fifth of the Vietnamese unit's value since mid-2008. To encourage people to cooperate, black-market trade in U.S. dollars and gold, once tolerated and widespread, has been severely curtailed in recent months to force people to save and invest in dong instead.

Trong lúc này, các nhà phân tích cho rằng Việt Nam cần thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài để nâng cấp hệ thống đường sá, đường sắt đang bị quá tải, cũng như xây dựng thêm nhiều nhà máy điện để cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho sự phát triển năng động của nền kinh tế.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại hội nghị thường niên do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng nay phát biểu Việt Nam hi vọng sẽ thu hút được nhiều nhất là 300 tỷ USD viện trợ và đầu tư để cung cấp cho các nỗ lực cải thiện cơ sở hạ tầng cần thiết để thúc đẩy đất nước tiến vào con đường ổn định phát triển hơn.

Nhiều nhà kinh tế học nhận xét chính phủ đang nỗ lực thi hành chính sách kinh tế vĩ mô nhằm vực dậy niềm tin, tạm thời gác qua chính sách tập trung tăng trưởng như thường lệ để lấy lại sự tin tưởng đã mất khi lạm phát tăng cao. Tuần trước Việt Nam đã hạ thấp mục tiêu tăng trưởng cho năm nay từ 7.5% xuống còn khoảng 6.5 - 7% để dồn trọng tâm cho việc hạn chế tăng trưởng tín dụng, nhằm kìm chế lạm phát.

Quan chức chính phủ đang cố gắng phục hồi lòng tin vào đồng nội tệ thiếu ổn định, VND, sau chuỗi sự kiện phá giá đồng tiền gần một phần năm trị giá của nó, tức 20%, kể từ giữa năm 2008. Để khuyến khích người dân cộng tác, thị trường chợ đen USD và vàng, từng được bỏ ngỏ và phát triển mạnh, đã bị cấm cản nghiêm ngặt trong những tháng gần đây để ép buộc người dân thay vào đó chuyển hướng đầu tư sang VND.
Citigroup economist Johanna Chua notes that the dong has risen by around 2% against the dollar over the past month and that the central bank appears "on track" to meet its target of keeping credit growth below 16% this year, compared with nearly 30% in 2010. UBS, meanwhile, still includes Vietnam among its most favored frontier markets.

The Vinashin crisis, though, is an ongoing drag on Vietnam's prospects, damaging both its reputation among international lenders and potentially slowing the inflow of foreign investments that have helped drive the country's economy in recent years.

Prime Minister Nguyen Tan Dung's goal was to turn Vinashin into a manufacturing powerhouse that would keep the shipbuilding industry in state hands, but the project fell apart when the global economic crisis hit in 2008, leaving Vinashin with around $4.4 billion in debts. The company's order book was slashed, crippling its cash flow. Last summer, police investigators arrested several top officials, including former chief executive Pham Thanh Binh, and accused them of falsifying financial statements to mask the true extent of the company's problems.

Johanna Chua, nhà phân tích tại Citigroup, ghi nhận VND đã tăng giá trị khoảng 2% so với USD trong tháng qua, và Ngân hàng Trung ương dường như đang thực hiện đúng mục tiêu là giảm tăng trưởng tín dụng dưới 16% trong năm nay, thay vì gần như 30% vào 2010. Trong lúc này, UBS vẫn liệt kê Việt Nam là một trong những thị trường tìm năng bên ngoài.

Tuy vậy, thảm họa Vinashin đang diễn ra là một dấu trừ lớn cho hình ảnh Việt Nam, hủy hoại không những tên tuổi của Việt Nam đối với các chủ nợ nước ngoài, mà nó còn có nguy cơ làm chậm lại dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài vốn đã giúp nền kinh tế phát triển trong những năm gần đây.

Mục tiêu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặt ra là nhằm biến Vinashin trở thành tập đoàn đóng tàu tầm cỡ để có thể giữ cho toàn ngành công nghiệp đóng tàu luôn nằm dưới sự điều hành của chính phủ, nhưng dự án đã dần dần tan rã sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2008, khiến cho Vinashin chìm trong 4.4 tỷ USD nợ nần. Danh sách đặt hàng đột nhiên ngưng bặt, làm tê liệt dòng tiền doanh thu. Mùa hè năm ngoái, cơ quan điều tra đã bắt giam một số lãnh đạo chủ chốt của tập đoàn, bao gồm cả cựu Tổng giám đốc điều hành Phạm Thanh Bình, với các cáo buộc giả mạo giấy tờ tài chính để che đậy sự thật về sai phạm tại Vinashin.
Moody's Investors Service, Standard & Poor's and Fitch Ratings have all downgraded Vietnam's credit ratings in recent months, in large part because of the problems at Vinashin. The prime minister apologized for his role in Vinashin's mismanagement in a nationally televised session of the country's legislature.

Investors involved in the $600 million syndicated loan say they have been surprised by the unresponsiveness of the Vietnamese government to their concerns. Lenders have tried numerous times over the past several months to get an idea of what is happening at Vinashin. Among other things, the government has transferred some Vinashin units to other state-run enterprises without seeking the approval of the company's creditors.

The government, though, has repeatedly said that Vinashin's debts aren't the state's responsibility, leaving Vinashin's lenders unclear on how to get their money back.

In the meantime, the financial situation at Vinashin itself appears to be growing more precarious. "They're not making any money on the ships and the government is asking local banks to extend more loans and asking suppliers to lend more support," says the person familiar with the situation at Vinashin. "But you just can't tell what's going on. It's so opaque."

Moody, Standard & Poor và Fitch đều đã hạ điểm tín dụng của Việt Nam trong các tháng gần đây, phần lớn là vì những gì đang diễn ra ở Vinashin. Thủ tướng đã nhận trách nhiệm sai phạm và quản lý yếu kém trên truyền hình tại phiên chất vấn của Quốc hội.

Các nhà đâu tư có liên quan trong khoản vay chung trị giá 600 triệu USD cho hay họ sững sờ trước thái độ vô trách nhiệm của chính phủ Việt Nam đối với vấn đề. Trong nhiều tháng qua, các chủ nợ đã nhiều lần cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì đang diễn ra tại Vinashin. Cùng với nhiều sự việc khó hiểu khác, chính phủ đã chuyển đổi nhiều công ty thành viên trong tập đoàn Vinashin dưới sự điều hành của những tập đoàn quốc doanh khác mà không tìm kiếm một giải pháp đồng thuận từ những chủ nợ của công ty.

Thay vào đó, chính phủ liên tiếp cho rằng khoản nợ của Vinashin không thuộc trách nhiệm của nhà nước, bỏ mặc chủ nợ bối rối không biết làm cách nào để đòi lại số tiền cho vay.

Trong lúc này, tình hình tài chính của Vinashin diễn biến càng lúc càng đáng ngờ. "Họ đang không làm ra bất cứ đồng tiền nào trong việc kinh doanh tàu, và chính phủ thì đang kêu gọi ngân hàng địa phương nới rộng thêm nhiều khoản vay cũng như các nhà cung ứng địa phương mở rộng hỗ trợ", một người quen thuộc với tình hình tại Vinashin cho biết. "Nhưng không ai có thể nói được chuyện gì đang xảy ra. Mọi thứ đang rất mờ đục".

--------

Faith in Vietnam Falls With Shipmaker: http://online.wsj.com/article/SB10001424052748703864204576321241877911856.html